vanban.org

Bản án 08/2020/HSST — Hình sự

TAND TP. Huế, TP. Huế Tuyên án 06/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đặng Hữu T phạm tội “Trộm cắp tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Đặng Hữu T phải chịu 200.000 đồng án phí hình… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đặng Hữu T phạm tội “Trộm cắp tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm Buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HUẾ
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2020/HSST
Ngày: 06/02/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huế.

Các hội thẩm nhân dân: Bà Trần Bích Thuỷ và bà Đoàn Thị Thanh Nhàn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Huyền Trang- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Lê Bá Tuấn- Kiểm sát viên.

Trong ngày 06 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế (60 Nguyễn Huệ, Huế) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 295/2019/HSST ngày 23 tháng 12 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2020/QĐXXST-HS ngày 20/01/2020 đối với bị cáo:

Đặng Hữu T, tên gọi khác: Không; sinh năm 1987 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi cư trú: Số nhà 186 đường C, phường P, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 8/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; con ông Đặng Đ, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1965; vợ: Trần Phạm Thị Khánh T, sinh năm 1988 (đã ly hôn); con: Không có;

Quá trình nhân thân: Lúc nhỏ ở với gia đình; học hết lớp 8 thì nghỉ;

- Ngày 17/7/2012, bị Toà án nhân dân thành phố Huế xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 147/2012/HSST);

- Ngày 21/10/2013, bị Công an thị xã Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt vi phạm hành chính 750.000 đồng về hành vi “ Sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Tiền án: có 01 tiền án. Ngày 26/12/2013, bị Toà án nhân dân huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 01 năm tù về tội “ Trộm cắp tài sản” (Bản án số 25/2013/HSST). Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù từ ngày 25/9/2014, nhưng chưa thi hành 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13/9/2019 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Bị hại:

Anh Bảo Đ, sinh năm 1984. Nơi cư trú: 11 đường N, phường P, thành phố Huế, vắng mặt.

Anh Đặng S, sinh năm 1985, chị Nguyễn Thị Lan P, sinh năm 1985. Cùng cư trú: 126 đường Đ, xã H, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế, đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ 40 phút ngày 18/5/2019, trên đường đi chơi về ngang qua nhà số 11 đường N, phường P, thành phố Huế, Đặng Hữu T nhìn thấy anh Bảo Đ đang nằm ngủ ở hiên nhà phía cạnh hàng rào, bên cạnh có một chiếc điện thoại di động hiệu Lumia 630, gắn sim số 0786.922.577 đang sạc. T liền lén lút lấy cây chổi khoèo lấy chiếc điện thoại rồi tẩu thoát.

Sáng cùng ngày, T nảy sinh ý định lừa đảo các thuê bao lưu trong danh bạ máy điện thoại của anh Đ. T liền dùng điện thoại gắn sim của anh Đ gọi điện, nhắn tin, tự xưng là Đ cho nhiều người nhờ nộp tiền điện thoại qua thẻ card. Trong đó có 02 người tưởng thật nên đã nộp tiền như sau:

Vào lúc 06 giờ 47 phút, T gọi điện vào điện thoại số 0935.211.252 của anh Đặng S tự nhận là Đ và nhờ mua giúp thẻ card nộp tiền cho điện thoại. Lúc này anh S đang giao hàng tại chợ Đông Ba tưởng là anh Đ gọi nên đã mua 01 thẻ điện thoại trị giá 100.000 đồng rồi nhắn tin số thẻ card cho T. Đến trưa cùng ngày, anh S về nhà thì vợ là chị Nguyễn Thị Lan P cho biết anh Đ bị mất điện thoại nên biết bị lừa.

Vào lúc 05 giờ 01 phút, T nhắn tin vào điện thoại số 0934.824.042 của chị Nguyễn Thị Lan P là vợ của anh S. Lúc này chị P đang ở nhà tưởng anh Đ nhắn tin nên đã mua 02 thẻ card nộp tiền điện thoại với tổng giá trị 200.000 đồng rồi nhắn tin và đọc số mã card điện thoại cho T. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, anh Đ dùng điện thoại khác điện thoại cho chị P báo mình bị mất điện thoại nên chị P mới biết mình bị lừa.

Tổng cộng T đã lừa của anh S và chị P 300.000 đồng, số tiền trên T sử dụng chơi game hết.

Vật chứng thu giữ:

-Một điện thoại di động hiệu Lumia 630, gắn sim số 0786.922.577 ;

- Tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam 300.000 đồng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 186/KL-HĐĐG ngày 27/6/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Huế xác định: tại thời điểm bị chiếm đoạt chiếc điện thoại di động hiệu Lumia 630 có giá trị 200.000 đồng.

Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra Công an thành phố Huế đã trả lại chiếc điện thoại di động và 300.000 đồng cho các bị hại. Sau khi nhận lại tài sản, anh Đ và vợ chồng anh S chị P không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại cơ quan điều tra, bị cáo Đặng Hữu T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Bản cáo trạng số 10/CT-VKS ngày 23/12/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế quyết định truy tố bị cáo Đặng Hữu T về tội “ Trộm cắp tài sản” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 và điểm b khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế thực hành quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đặng Hữu T từ 06 tháng đến 09 tháng tù; Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 174, điểm b, h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đặng Hữu T từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Tổng hợp hình phạt chung của cả hai tội từ 01năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra Công an thành phố Huế đã trả lại chiếc điện thoại di động và 300.000 đồng cho các bị hại. Sau khi nhận lại tài sản, anh Đ và vợ chồng anh S chị P không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phi : Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy đi ̣nh của pháp

́ luâ ̣t.

Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Huế, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Đặng Hữu T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, xét lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 01 giờ 40 phút ngày 18/5/2019, tại nhà số 11 đường N, phường P, thành phố Huế, Đặng Hữu T đã trộm cắp của anh Bảo Đ 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia Lumia 630 trị giá 200.000 đồng. Sáng cùng ngày, T dùng thủ đoạn gian dối là sử dụng điện thoại gắn sim của anh Đ gọi điện thoại, nhắn tin tự xưng là Đ làm cho vợ chồng anh Đặng S và chị Nguyễn Thị Lan P tưởng thật nên đã nộp 300.000 đồng tiền card điện thoại cho T sử dụng hết.

Đặng Hữu T có 01 tiền án về tội: “ Trộm cắp tài sản”, chưa được xoá án tích, nay lại tiếp tục trộm cắp tài sản trị giá 200.000 đồng, sau đó bằng thủ đoạn gian dối lừa đảo 02 người khác chiếm đoạt tài sản có tổng giá trị 300.000 đồng nên đã phạm vào tội: “Trộm cắp tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 và điểm b khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố đối với bị cáo Đặng Hữu T là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng nào đối với cả hai tội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; thành khẩn khai báo nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm h, s khoản 1 điều 51 của Bộ luật Hình sự cho cả hai tội. Đối với tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ “Bồi thường thiệt hại” được quy định tại điểm b khoản 1 điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: Hành vi chiếm đoạt tài sản của bị cáo nhằm mục đích hưởng lợi bất chính, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, đồng thời làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Quá trình thực hiện tội phạm có sự chuẩn bị phương thức, thủ đoạn để thực hiện tội phạm thể hiện sự xem thường pháp luật, nên cần xử lý nghiêm.

Bị cáo có nhân thân xấu, đã hai lần bị xử phạt tù về tội “ Trộm cắp tài sản” đến nay chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội thể hiện sự coi thường pháp luật, gây mất trật tự trị an tại địa phương, do đó cần phải xử lý bị cáo nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa chung như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Tuy nhiên, khi phạm tội bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định nên cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, giúp bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật và yên tâm cải tạo.

Do bị cáo bị xét xử nhiều tội trong cùng vụ án nên cần căn cứ điểm a khoản 1 điều 55 của Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt chung.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Lumia 630 và số tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam 300.000 đồng, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Huế đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho bị hại là đúng pháp luật, tại phiên tòa không có ai có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Do các bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: Điểm b Khoản 1 Điều 173 ; Điểm b Khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Đặng Hữu T phạm tội “Trộm cắp tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Căn cứ: Điểm b Khoản 1 Điều 173 ; Điểm h, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Đặng Hữu T 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” .

Căn cứ: Điểm b Khoản 1 Điều 174; Điểm b, h, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Đặng Hữu T 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Căn cứ: Điểm a Khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giam là ngày 13/9/2019.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Đặng Hữu T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm .

3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ