vanban.org

Bản án 08/2020/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 05/02/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 05/02/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Thanh N và giữ nguyên phần hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2019/HS-ST ngày 07 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N 09 (chín) tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh N phạm tội: "Trộm cắp tài sản" và "Hủy hoại tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Thanh N và giữ nguyên phần hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2019/HS-ST ngày 07 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2020/HS-PT
Ngày: 05-02-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Tuấn

Các Thẩm phán: Ông Lê Thành Tân

Bà Nguyễn Thị Tư

- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Thành Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Châu - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 163/2019/TLPT-HS ngày 20 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo Nguyễn Thanh N do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 32/2019/HS-ST ngày 07 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Thanh N, sinh năm 1991 tại huyện C, tỉnh Bến Tre; nơi cư trú: Ấp Đ, xã P, huyện M, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D (chết) và bà Lê Thị L; chưa vợ và con; tiền án: bị xử phạt 01 năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “Cố ý gây thương tích” theo Bản án số 32/2015/HSST ngày 27/11/2015 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Vĩnh Long; tiền sự: Ngày 31/3/2019 bị Công an xã P phạt hành chính 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 0010298/QĐ-XPVPHC (bị cáo chưa thi hành quyết định); nhân thân: Ngày 11/5/2017 bị xử phạt hành chính về hành vi hủy hoại tài sản, ngày 10/7/2019 bị xử phạt hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng; bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 15/7/2019 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra còn 01 bị hại không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguyễn Thanh N là con ruột của bị hại Lê Thị L. Vào khoảng 20 giờ ngày 06/4/2019 sau khi đi uống rượu về, bị cáo ngủ đến khoảng 02 giờ ngày 07/4/2019 bị cáo dậy hỏi mượn điện thoại di động của bị hại. Bị hại không cho bị cáo mượn, bị cáo tức giận mở cửa ra đứng trước sân nhà dùng tay đánh vào cánh cửa nhà. Lúc đó bị hại hoảng sợ, mở cửa nhà sau đi qua nhà khác trốn. Bị cáo dùng nón bảo hiểm và một thanh gỗ đập phá tài sản của bà Lài bao gồm: 02 tủ kính để điện thoại Mobiphone, 01 tủ kính nhôm để điện thoại Vinaphone, 01 tủ kính nhôm bị hư hỏng hoàn toàn, 01 tủ để điện thoại hình chữ L, 01 tủ xe nước mía, 01 tủ điện thoại, cánh cửa kính nhà trên (phòng khách), cánh cửa sổ nhà trên bên trái (phòng khách), cánh cửa ra vào nhà sau, cánh cửa sổ nhà dưới, hai cánh cửa sổ phòng ngủ, tủ bằng bê tông nhà sau có gắn kính, cánh cửa sổ nhà sau. Thiệt hại làm vỡ các kính tủ, kính các cửa, tổng số 26 tấm kính các loại và 01 tủ nhôm bị hư hỏng toàn bộ, tổng thiệt hại trị giá 5.834.560 đồng.

Đến ngày 20/5/2019, khi bị hại không có ở nhà, bị cáo tiếp tục dùng thanh gỗ đập các tài sản gồm: Cánh cửa sổ nhà trên bên phải (phòng khách), 01 ghế bàn gỗ mặt kính, tủ để ti vi, thiệt hại làm vỡ các tấm kính cửa sổ, tủ, kính ghế bàn, trị giá thiệt hại 442.312 đồng.

Tổng tài sản thiệt hại do bị cáo gây ra theo định giá: 6.273.872 đồng.

Trong quá trình điều tra, bị cáo còn khai nhận vào khoảng giữa tháng 4/2019 bị cáo không nhớ ngày cụ thể, lợi dụng khi bị hại đi Thành phố Hồ Chí Minh làm thuê, bị cáo đã lén lút lấy các tài sản của bị hại bán cho người mua ve chai để tiêu xài như sau:

- Lần thứ nhất trộm một tủ lạnh, nhãn hiệu SANYO, loại 180 lít, màu trắng, bán với giá 300.000 đồng.

- Lần thứ hai trộm tổng thành máy (động cơ) của xe honda mang biển số 64K4- 7503, số máy VDTFS152QMJ1202481, bán với giá 400.000 đồng.

- Lần thứ ba trộm một cây tủ đông đựng kem, nhãn hiệu SANAKY, tủ hai ngăn, loại 195 lít, màu trắng, bán với giá 400.000 đồng.

Theo Kết luận số 32/KLĐGTS ngày 20/8/2019 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự của huyện M xác định giá trị tài sản bị cáo trộm như sau:

- Giá một tủ lạnh nhãn hiệu SANYO là 4.050.000 đồng.

- Giá một tủ đông nhãn hiệu SANAKY là 3.450.000 đồng.

- Tổng thành máy (động cơ) honda biển số 64K4- 7503, số máy VDTFS152QMJ1202481, không thu hồi được nên không đủ điều kiện để định giá.

Theo Bản cáo trạng số: 31/CT-VKS.HMT ngày 08/10/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M truy tố bị cáo Nguyễn Thanh N về tội: “Trộm cắp tài sản” căn cứ Khoản 1 Điều 173 và tội “Hủy hoại tài sản” căn cứ Khoản 1 Điều 178 của Bộ luật hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 32/2019/HS-ST ngày 07 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Vĩnh Long đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh N phạm tội “Hủy hoại tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng vào Khoản 1 Điều 178; Điểm h, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt:

Nguyễn Thanh N 09 (chín) tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”.

Áp dụng vào Khoản 1 Điều 173; Điểm h, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điểm g, h Khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt:

Nguyễn Thanh N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng vào Điểm a Khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự:

Tổng hợp bị cáo Nguyễn Thanh N bị phạt 02 (hai) năm tù.

Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt tạm giam 15/7/2019.

Áp dụng Khoản 5 Điều 173 và Khoản 5 Điều 178 của Bộ luật Hình sự:

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Nguyễn Thanh N.

Về bồi thường thiệt hại: Không xét.

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí, việc thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 12 tháng 11 năm 2019 bị cáo Nguyễn Thanh N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa bị cáo Nhã giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thanh N đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hoạt động tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng vì vậy các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thanh N thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như bản án sơ thẩm đã xử. Xét lời thừa nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại trong vụ án cùng các chứng cứ khác do Cơ quan Cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát đã thu thập được, vì vậy có đủ căn cứ kết luận:

- Vào khoảng khoảng 02 giờ ngày 07/4/2019 do tức giận bị hại, bị cáo N dùng nón bảo hiểm và một thanh gỗ đập phá tài sản của bà L bao gồm: 02 tủ kính để điện thoại Mobiphone, 01 tủ kính nhôm để điện thoại Vinaphone, 01 tủ kính nhôm bị hư hỏng hoàn toàn, 01 tủ để điện thoại hình chữ L, 01 tủ xe nước mía, 01 tủ điện thoại, cánh cửa kính nhà trên (phòng khách), cánh cửa sổ nhà trên bên trái (phòng khách), cánh cửa ra vào nhà sau, cánh cửa sổ nhà dưới, hai cánh cửa sổ phòng ngủ, tủ bằng bê tông nhà sau có gắn kính, cánh cửa số nhà sau. Thiệt hại làm vỡ các kính tủ, kính các cửa, tổng số 26 tấm kính các loại và 01 tủ nhôm bị hư hỏng toàn bộ, tổng thiệt hại trị giá 5.834.560 đồng.

- Vào ngày 20/5/2019, khi bị hại không có ở nhà, bị cáo N tiếp tục dùng thanh gỗ đập các tài sản gồm: Cánh cửa sổ nhà trên bên phải (phòng khách), 01 ghế bàn gỗ mặt kính, tủ để ti vi, thiệt hại làm vỡ các tấm kính cửa sổ, tủ, kính ghế bàn, trị giá thiệt hại 442.312 đồng.

Tổng tài sản thiệt hại do bị cáo gây ra theo định giá: 6.273.872 đồng.

- Trong quá trình điều tra, bị cáo còn khai nhận vào khoảng giữa tháng 4/2019 bị cáo N không nhớ ngày cụ thể, lợi dụng khi bị hại đi Thành phố Hồ Chí Minh làm thuê, bị cáo đã lén lút lấy các tài sản của bị hại bán cho người mua ve chai để tiêu xài như sau:

- Lần thứ nhất trộm một tủ lạnh, nhãn hiệu SANYO, loại 180 lít, màu trắng, bán với giá 300.000 đồng.

- Lần thứ hai trộm tổng thành máy (động cơ) của xe honda mang biển số kiểm soát 64K4- 7503, số máy VDTFS152QMJ1202481, bán với giá 400.000 đồng.

- Lần thứ ba trộm một cây tủ đông đựng kem, nhãn hiệu SANAKY, tủ hai ngăn, loại 195 lít, màu trắng, bán với giá 400.000 đồng.

Theo kết luận số 32/KLĐGTS ngày 20/8/2019 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự của huyện M xác định giá trị tài sản bị cáo trộm như sau: Một tủ lạnh nhãn hiệu SANYO là 4.050.000 đồng; một tủ đông nhãn hiệu SANAKY là 3.450.000 đồng; tổng thành máy xe honda biển số 64K4- 7503, số máy VDTFS152QMJ1202481, không thu hồi được nên không đủ điều kiện để định giá.

Với những hành vi phạm tội nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã kết án bị cáo N phạm tội hủy hoại tài sản và tội trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 178 và Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Nhận thấy hành vi của bị cáo N là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây mất an ninh trật tự ở địa phương, bị cáo phạm tội trộm cắp hai lần. Bị cáo N trước đây bị kết án về tội cố ý gây thương tích, chưa được xóa án tích, phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm. Mặt khác nhân thân bị cáo bị xử lý hành chính về hành vi vi phạm pháp luật nhiều lần nhưng vẫn không chịu cải sửa.

Bản án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo N, đã xem xét toàn diện các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ đối với bị cáo, xử bị cáo N với mức hình phạt 09 tháng tù về tội hủy hoại tài sản và 01 năm 03 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 02 năm tù là cần thiết đáp ứng yêu cầu giáo dục và phòng ngừa. Vì vậy không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.

Về án phí: Do không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm, bị cáo N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Tại phiên tòa vị Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết đối với vụ án và đề nghị căn cứ Khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo N và giữ nguyên bản án sơ thẩm, xử phạt bị cáo N 09 tháng tù về tội hủy hoại tài sản và 01 năm 03 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 02 năm tù. Nhận thấy đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ, áp dụng đúng quy định của pháp luật nên có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Thanh N và giữ nguyên phần hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2019/HS-ST ngày 07 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

- Áp dụng Khoản 1 Điều 178; Khoản 1 Điều 173; Điểm a Khoản 1 Điều 55, Điểm h, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điểm g, h Khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N 09 (chín) tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”

Tổng hợp hình phạt của hai tội bị cáo Nguyễn Thanh N phải chấp hành chung là 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt tạm giam 15/7/2019.

- Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm b Khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Thanh N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm về: Miễn hình phạt bổ sung, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí sơ thẩm, không có kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ