vanban.org

Bản án 08/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Phước Long, tỉnh Bình Phước Tuyên án 16/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hà Văn L (Tên gọi khác: Y ruồi) phạm “Tội trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hà Văn L 08 (Tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/9/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hà Văn L (Tên gọi khác: Y ruồi) phạm “Tội trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ PHƯỚC LONG
TỈNH BÌNH PHƯỚC
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2020/HS-ST
Ngày 20/02/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHƯỚC LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Ánh Nguyệt

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Đông Quang

2. Ông Nguyễn Văn Ngần

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Vui – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Lê Đức Thọ - Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 02 năm 2020, tại Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 11/2019/TLST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2020/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2020, đối với bị cáo:

Hà Văn L (Tên gọi khác: Y ruồi), sinh năm: 1986, tại Bình Phước.

HKTT: khu phố 3, phường M, thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá (học vấn) 6/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn T và bà Trần Thị L (A); bị cáo có 12 anh chị em ruột; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: không; tiền sự: Ngày 26/3/2015, bị Tòa án nhân dân thị xã Phước Long áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 (Hai mươi bốn) tháng, theo Quyết định số 04/QĐ-TA, chấp hành xong ngày 20/11/2017; nhân thân: bị Tòa án nhân dân thị xã Phước Long xử phạt 08 (Tám) tháng tù về tội trộm cắp tài sản và 36 (Ba mươi sáu) tháng tù về tội cướp giật tài sản, buộc bị cáo chấp hành chung cho hai tội là 44 (Bốn mươi bốn) tháng tù theo bản án số 33/2010/HSST ngày 19/10/2010, chấp hành xong ngày 17/8/2013; bị bắt tạm giữ ngày 19/9/2019, tạm giam ngày 25/9/2019 cho đến nay. Có mặt.

- Bị hại: Nguyễn Quốc T1, sinh năm 1981, trú tại: Thôn H, xã G, thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước. Có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Trương Quang T2 (K), sinh năm 1988, trú tại: Khu phố 3, phường T, thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước.

2. Nguyễn Văn K, sinh năm 1981, trú tại: Khu phố 2, phường T, thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước.

3. Huỳnh Văn P (L), sinh năm 1997, trú tại: Khu phố L, phường S, thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước.

4. Nguyễn Thanh M, sinh năm 1973, trú tại: Khu phố 1, phường M, thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước.

5. Nguyễn Văn T3, sinh năm 1972, trú tại: Khu phố 4, phường M, thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan T2, K, P, M, T3 vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do đã có ý định trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài từ trước nên khoảng 04 giờ ngày 18/9/2019, Hà Văn L điều khiển xe mô tô (không biển kiểm soát) từ nhà tại khu 3, phường M, thị xã Phước Long chạy theo đường ĐT 741 đến tiệm gia công inox “Công Danh” của Nguyễn Quốc T1 tại khu 1, phường M, thị xã Phước Long. L thấy không có người trông coi nên L dùng kìm cộng lực phá khóa cửa, đột nhập vào bên trong, lấy trộm 02 máy hàn hiệu Jasic Tig 200s và 02 đoạn dây hàn.

Đến khoảng 07 giờ cùng ngày, T1 phát hiện bị mất tài sản nên đến công an phường M trình báo, dồng thời nhờ Nguyễn Thanh M liên hệ tìm giúp để chuộc lại. M nhờ Nguyễn Văn K, K nhờ Huỳnh Văn P, P nhờ Trương Quang T2. T2 gọi cho một số người nhờ tìm giúp, trong đó có Nguyễn Văn T3.

Sau khi trộm được tài sản, L chở đến khu 7, phường Long Phước, thị xã Phước Long, bán cho Nguyễn Văn T3. T3 thấy đặc điểm của 02 máy hàn giống như T2 mô tả nên T3 đưa cho L số tiền 800.000 đồng để giữ 02 máy hàn lại và gọi điện cho T2 ra lấy. T2 gọi điện thoại báo cho P biết đã tìm được 02 máy hàn, mang 3.000.000 đồng ra chuộc. M nói với T1 đưa cho M 3.500.000 đồng để chuộc; khi đưa tiền cho K, M nói cho K 500.000 đồng, còn 3.000.000 đồng K đưa cho P, P cầm tiền và đưa cho T2. T2 giữ lại 500.000 đồng, còn 2.500.000 đồng T2 đưa cho T3 rồi lấy 02 máy hàn giao cho T1.

Ngày 19/9/2019, Cơ quan điều tra tiến hành thu giữ 02 máy hàn do T1 giao nộp để định giá; thu giữ số tiền 500.000 đồng do M giao nộp; thu giữ số tiền 500.000 đồng do T2 giao nộp; thu giữ số tiền 1.700.000 đồng do T3 giao nộp. Cùng ngày L đến Công an phường M đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô không biển kiểm soát, số khung YX 100-01576021, số máy: LC150FMG01576021.

Ngày 25/9/2019, Hà Văn L bị khởi tố bị can để điều tra.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 36/HĐ.ĐGTSTTTHS.19 ngày 24/9/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Phước Long: Tại thời điểm ngày 18/9/2019, tổng giá trị của các tài sản gồm: 02 (Hai) máy hàn điện tử nhãn hiệu JASIC, loại TIG 200s màu cam; 12,5 mét dây hàn; 12,5 mét dây mát hàn là 3.000.000 đồng.

Baûn caùo traïng soá 05/CT-VKS ngaøy 13/01/2020, Vieän kieåm saùt nhaân daân thò xaõ Phöôùc Long ñaõ truy toá Hà Văn L veà toäi “Trộm cắp taøi saûn” theo khoaûn 1 Ñieàu 173 cuûa Boä luaät hình söï.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát thực hiện quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Hà Văn L về tội “Trộm cắp tài sản”; Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa: bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo đầu thú, tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại, bị hại không yêu cầu bồi thường gì khác và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Hà Văn L từ 06 (Sáu) đến 09 (Chín) tháng tù.

Về vật chứng: Một xe môtô không biển kiểm soát mà L sử dụng làm phương tiện phạm tội, chưa rõ nguồn gốc nên Cơ quan điều tra tách riêng xử lý sau.

Về trách nhiệm dân sự: không đặt ra.

- Bị cáo tự bào chữa: Bị cáo thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố và không có ý kiến tranh luận gì với phần luận tội của Kiểm sát viên.

- Bị hại: Do có đơn hàng gấp nên khi bị mất máy hàn, bị hại đã nhờ người tìm kiếm để chuộc lại và có tự nguyện cho thêm tiền công. Bị hại đã nhận lại tài sản và tiền chuộc do số người liên quan giao nộp và gia đình bị cáo bồi thường nên bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản gì khác và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ăn năn về hành vi phạm tội của mình. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Phước Long, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 04 giờ ngày 18/9/2019, Hà Văn L điều khiển xe mô tô đến tiệm gia công inox “Công Danh” của Nguyễn Quốc T1 lén lút phá khóa vào lấy trộm 02 máy hàn hiệu Jasic Tig 200s và 02 đoạn dây hàn. Tài sản bị chiếm đoạt có giá trị là 3.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố để cấu thành “Tội trộm cắp tài sản”. Viện kiểm sát truy tố và luận tội bị cáo theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; ngoài ra còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội ở địa phương. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vì mục đích tư lợi cá nhân bị cáo đã cố ý thực hiện. Bị cáo có nhân thân xấu đã bị xét xử về tội Trộm cắp tài sản và cướp giật tài sản phải chấp hành hình phạt chung là 44 (Bốn mươi bốn) tháng tù giam (chấp hành xong tháng 8 năm 2013) nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cảnh tỉnh cho mình mà lại tiếp tục phạm tội, chứng tỏ bị cáo có thái độ coi thường pháp luật. Do đó, xét cần xử phạt bị cáo mức hình phạt thật nghiêm, tương xứng với hành vi và hậu quả do bị cáo gây ra là cần thiết, nhằm giáo dục bị cáo có ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng tài sản của người khác và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi lượng hình cũng xét, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: “Thành khẩn khai báo”, “Tài sản đã được thu hồi và trả lại cho bị hại”, “bị cáo đầu thú”, “bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thay cho bị cáo”, “bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo”. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: xét bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan CSĐT Công an thị xã Phước Long đã xử lý trả lại cho bị hại hai máy hàn hiệu Jasic Tig 200s, 02 đoạn dây hàn và số tiền 2.700.000đ do người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Gia đình bị cáo cũng đã bồi thường cho bị hại, bị hại không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về vật chứng vụ án:

Một kiềm cộng lực bị cáo sử dụng để bẻ khoen khóa, bị cáo đã vứt trên đường đi tiêu thụ tài sản, không thu giữ được nên không xem xét xử lý.

01 (Một) xe mô tô không biển kiểm soát, số khung YX 100-01576021, số máy: LC150FMG01576021 mà L sử dụng làm phương tiện phạm tội, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Phước Long đã tiến hành xác minh để xác định chủ sở hữu nhưng chưa xác định được nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã Phước Long tách ra, tiếp tục xác minh, xử lý sau.

Đối với Nguyễn Thanh M, Nguyễn Văn K, Huỳnh Văn P, Trương Quang T2, Nguyễn Văn T3 được người bị hại Nguyễn Quốc T1 nhờ chuộc tài sản bị mất trộm, trong quá trình tìm chuộc tài sản các đối tượng này có lấy tiền công nhưng không có căn cứ để xử lý hình sự nên không đề cập đến việc xử lý.

Về quan điểm của Kiểm sát viên về tội danh, hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp với qui định pháp luật, phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được ghi nhận.

Veà aùn phí: Bò caùo phaûi chòu theo quy ñònh cuûa phaùp luaät.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 38, 50 Bộ luật hình sự năm 2015; các điều 331, 333 và 337; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Tuyên bố bị cáo Hà Văn L (Tên gọi khác: Y ruồi) phạm “Tội trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Hà Văn L 08 (Tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/9/2019.

3. Về án phí:

Bò caùo phaûi chòu 200.000 ñoàng (Hai traêm nghìn ñoàng) aùn phí hình söï sô thaåm.

4. Về quyền kháng cáo:

Bò caùo, bị hại coù maët coù quyeàn khaùng caùo baûn aùn naøy trong thôøi haïn 15 ngaøy, keå töø ngaøy tuyeân aùn (ngày 20/02/2020).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt coù quyeàn khaùng caùo baûn aùn naøy trong thôøi haïn möôøi laêm ngaøy keå töø ngaøy nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

“Tröôøng hôïp baûn aùn ñöôïc thi haønh theo quy ñònh taïi Ñieàu 2 Luaät Thi haønh aùn daân söï thì ngöôøi ñöôïc thi haønh aùn daân söï, ngöôøi phaûi thi haønh aùn daân söï coù quyeàn thoûa thuaän thi haønh aùn, quyeàn yeâu caàu thi haønh aùn, töï nguyeän thi haønh aùn hoaëc bò cöôõng cheá thi haønh aùn theo quy ñònh taïi caùc ñieàu 6, 7 vaø 9 Luaät Thi haønh aùn daân söï; thôøi hieäu thi haønh aùn ñöôïc thöïc hieän theo quy ñònh taïi Ñieàu 30 Luaät Thi haønh aùn daân söï”.

Cỡ chữ