- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Tiến P ph m tội “Trộm cắp tài sản”. Căn cứ đi m b, s khoản 1 Điều 51, đi m g khoản 1 Điều 52, Điều 38 và đi m g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình s năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố t ng hình s; Điều 173 Bộ luật hình s; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2020/HS-ST; Ngày: 13-3-2020. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO - TỈNH TIỀN GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Th m phán – Ch t a phiên tòa: Bà Mai Thị Mỹ Trang;
Các H i th m nhân dân:
1/ Ông Lê Văn Kiệt;
2/ Bà Phan Thị Đẹp.
Th ký Tòa án ghi biên b n phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Tín – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố M Tho.
Đ i di n Vi n ki m sát nhân dân thành ph M Tho – t nh Ti n Giang tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Ngọc - Ki m sát viên.
Ngày 18 tháng 02 năm 2020, t i tr s Tòa án nhân dân thành phố M Tho, xét xử công khai v án hình s s th m th lý số 03/2020/HSST ngày 07 tháng 01 năm 2020, Quyết định đưa v án ra xét xử số 06/2020/QĐXXST-HS ngày 14/01/2020 đối với bị cáo:
Trần Tiến P (tên gọi khác Phi G) sinh năm 1993, t i tỉnh Tiền Giang; n i cư trú: Số 160/5H đường T, phường 6, thành phố m Tho, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; con ông Trần Văn T sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị Kim P sinh năm 1970; bị cáo chưa có vợ, chưa có con; tiền s : Không có; tiền án: 03 lần. Bị cáo bị bắt t m giữ ngày 12/9/2019, t m giam từ ngày 18/9/2019. Bị cáo đang bị t m giam t i Nhà t m giữ Công an thành phố M Tho có mặt t i phiên tòa.
* B h i:
1. Nguyễn Văn V, sinh năm 1970 (vắng mặt);
N i cư trú: số 668A tổ 8, ấp 5, xã T, thành phố M Tho, tỉnh Tiền Giang.
2. Trần Thị Kiều T, sinh năm 1973 (vắng mặt);
N i cư trú: số 268 khu phố 5, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
* Ng ời có quy n lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 2 -
1. Nguyễn Tấn T1 sinh năm 1987 (vắng mặt); N i cư trú: ấp M, xã M, thành phố M Tho, tỉnh Tiền Giang. 2. Phạm Thị Ngọc T1, sinh năm 1989 (vắng mặt); N i cư trú: ấp T, xã V, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp. 3. Huỳnh Trung H, sinh năm 1973 (vắng mặt); N i cư trú: số 9A2 đường L, phường 5, thành phố M Tho, tỉnh Tiền Giang. 4. Lê Minh Đ, sinh năm 1983 (vắng mặt); N i cư trú: số 897 đường L, phường 5, thành phố M Tho, tỉnh Tiền Giang. 5. Nguyễn Thị Kim P1, sinh năm 1970 (vắng mặt). N i cư trú: số 160/5H đường T, phường 6, thành phố M Tho, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ s v án và diễn biến t i phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau: V thứ nhất: Khoảng 14 giờ ngày 05/9/2019, bị cáo Trần Tiến P điều khi n xe mô tô lo i Dream màu xanh (xe cũ mua hóa giá, không có giấy tờ và không có bi n số) và đem theo một cây xà beng bằng sắt tìm nhà vắng chủ đ trộm cắp tài sản. Khi đến trước nhà chị Trần Thị Kiều T t i địa chỉ: số 189 đường L, phường 5, thành phố M Tho, tỉnh Tiền Giang. Bị cáo P nhìn thấy nhà khóa cửa nên dừng xe l i, dùng cây xà beng cậy bung ổ khóa cửa rào, ổ khóa cửa chính, lén lút đi vào trong phòng khách lấy trộm của chị T một tivi hiệu Samsung 55 inch màu đen đang treo trên tường đem về nhà cất giấu. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, bị cáo P đem bán tivi cho anh Lê Minh Đ với giá 2.000.000 đồng tiêu xài hết. Sau khi bị mất trộm tài sản, chị T đến Công an phường 5, thành phố M Tho trình báo. Bị h i Trần Thị Kiều T khai bị mất tivi và 01 điện tho i di động hiệu Samsung J6 màu vàng đồng, qua đối chất: Bị cáo P khẳng định chỉ lấy trộm một tivi, ngoài lời khai của bị cáo T thì không có chứng cứ nào khác đ chứng minh bị cáo Phi lấy trộm điện tho i di động của chị T. Anh Lê Minh Đ mua tivi của bị cáo P nhưng không biết trộm cắp mà có nên C quan điều tra không kh i tố anh Đức về tội “Tiêu th tài sản do người khác ph m tội mà có”. Theo bản kết luận định giá tài sản số 4844 ngày 18/9/2019 của Hội đồng định giá tài sản thành phố M Tho xác định: Một tivi hiệu Samsung 55 inch màu đen trị giá 14.400.000 đồng. Về vật chứng: C quan điều tra đã trả l i cho bị h i Trần Thị Kiều T một tivi Samsung 55inch màu đen. Đối với cây xà beng bị cáo P khai đã ném bỏ không xác định được địa đi m nên C quan điều tra không thu hồi được. Bị cáo
- 3 -
P đã bán xe mô tô lo i xe Dream màu xanh cho một người đàn ông không rõ họ tên địa chỉ nên C quan điều tra không thu hồi được.
Về trách nhiệm dân s : Bị h i Trần Thị Kiều T đã nhận l i tài sản bị mất trộm và không có yêu cầu bồi thường gì khác. Anh Lê Minh Đ không yêu cầu bị cáo P bồi thường số tiền anh đã bỏ ra mua tivi.
V án thứ hai: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 12/9/2019, Trần Tiến P đem theo 01 con dao bấm bằng kim lo i và đi bộ đến ấp 5, xã T, thành phố M Tho. Khi đến trước nhà của anh Nguyễn Văn V t i số 668A tổ 8, ấp 5, xã T, thành phố M Tho, bị cáo P lấy con dao bấm cậy bung kính cửa sau nhà, dùng tay m khóa cửa bằng chìa khóa cấm sẵn trong ổ khóa. Bị cáo P vào nhà của bị h i V lấy trộm một số tài sản gồm: 01 xe đ p điện hiệu HK Bike màu đỏ đen, 01 tivi hiệu Sony 40 inch màu đen đ trên tủ trong phòng khách; 01 máy tính xách tay hiệu Asus màu đen, 01 máy tính xách tay hiệu Dell màu đen và đ quên con dao dùng cậy cửa trên nệm trong phòng ngủ; 01 camera màu trắng đ trên đầu tủ l nh phía sau nhà bếp. Sau khi trộm tài sản, do tivi lớn nên bị cáo P đem cất giấu sau b i cây cách nhà bị h i V khoảng 76 mét, số tài sản còn l i bị cáo P đem về cất giấu. Sau đó, bị cáo P lấy 02 máy tính xách tay, 01 camera đến phòng trọ của chị Ph m Thị Ngọc T t i ấp 5, xã T, thành phố M Tho bỏ vào cốp xe mô tô lo i Attila màu đỏ bi n số 63B9-091.04 của T và điều khi n xe mô tô trên đến nhà anh Nguyễn Tấn T1 t i ấp M, xã M, thành phố M Tho đ bán máy tính xách tay hiệu Asus với giá 2.700.000 đồng tiêu xài hết. Bị cáo P trả l i xe cho chị T nhưng trong cốp xe vẫn còn máy tính xách tay hiệu Dell và camera do quên lấy và không nói cho Trân biết. Sau đó, bị cáo P về nhà định lấy xe đ p điện đem đi bán thì bị l c lượng công an phát hiện bắt giữ. Đến khoảng 11 giờ 20 phút cùng ngày, bị h i V phát hiện bị mất trộm tài sản nên đến Công an xã T, thành phố M Tho trình báo.
Khi mua máy tính xách tay, anh Nguyễn Tấn T1 không biết đó là tài sản do bị cáo P trộm cắp nên C quan điều tra không kh i tố Tho i về tội “Tiêu th tài sản do người khác ph m tội mà có”.
Theo bản kết luận định giá tài sản số 4740 ngày 13/9/2019 của Hội đồng định giá tài sản thành phố M Tho xác định: Một xe đ p điện hiệu HK Bike màu đỏ đen trị giá 7.000.000 đồng; 01 tivi hiệu Sony 40 inch màu đen trị giá 7.700.000 đồng; 01 máy tính xách tay hiệu Asus màu đen trị giá 8.400.000 đồng; 01 máy tính xách tay hiệu Dell màu đen trị giá 4.400.000 đồng; 01 camera màu trắng trị giá 560.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đo t là 28.060.000 đồng.
Về vật chứng: C quan điều tra đã trả l i cho bị h i Nguyễn Văn V: 01 xe đ p điện hiệu HK Bike màu đỏ đen, 01 máy tính xách tay hiệu Asus màu đen, 01 máy tính xách tay hiệu Dell màu đen phía sau có chữ Isnpiron N5110, 01 camera màu trắng ID 13104055.
Đối với xe mô tô lo i Attila màu đỏ bi n số 63B9.091.04 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô tên Huỳnh Trung H sinh năm 1973; cư trú số 9A2 đường L, phường 5, thành phố M Tho đứng tên. Trong quá điều tra đã xác
- 4 -
định: H cho T thuê xe mô tô làm phư ng tiện đi l i. H và T đều không biết bị cáo P sử d ng xe mô tô làm phư ng tiện đi trộm cắp tài sản nên C quan điều tra đã trả l i xe mô tô và giấy đăng ký xe anh H. Đối với một con dao bấm dài 19,5 cm bằng kim lo i mày đen, 01 bên có cán dao có gắn miếng nh a màu đỏ. C quan điều tra đã chuy n đến Chi c c thi hành án dân s thành phố M Tho chờ xử lý. Về trách nhiệm dân s : Bị h i Nguyễn Văn V đã nhận l i tài sản bị mất trộm và không có yêu cầu bồi thường gì khác. Anh Nguyễn Tấn T1 đồng ý nhận số tiền bồi thường là 1.000.000 đồng và không có yêu cầu gì khác. T i Cáo tr ng số 08/CT-VKS-HS ngày 07 tháng 01 năm 2020 của Viện ki m sát nhân dân thành phố M Tho đã truy tố bị cáo Trần Tiến P về tội “Tr m cắp tài s n” đi m g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình s năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. T i phiên tòa, đ i diện Viện ki m sát nhân dân thành phố M Tho vẫn giữ nguyên quan đi m về tội danh và khung hình ph t như Cáo tr ng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp d ng đi m b, s khoản 1 Điều 51, đi m g khoản 1 Điều 52, Điều 38, đi m g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình s xử ph t Trần Tiến P từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Tr m cắp tài s n”. Phát bi u t bào chữa của bị cáo Trần Tiến P: Bị cáo thừa nhận hành vi ph m tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình ph t cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên c s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ s v án đã được tranh t ng t i phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về tố t ng: Hành vi, quyết định tố t ng của C quan cảnh sát điều tra thành phố M Tho, Điều tra viên, Viện ki m sát nhân dân thành phố M Tho, Ki m sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã th c hiện đúng th m quyền, trình t thủ t c đúng theo quy định của Bộ luật tố t ng hình s . Trong quá trình điều tra và t i phiên tòa, bị cáo, bị h i và người có quyền lợi nghĩa v liên quan đều không có khiếu n i hay có ý kiến gì về hành vi và quyết định tố t ng của c quan tiến hành tố t ng và người tiến hành tố t ng. Do đó, hành vi và quyết định tố t ng của c quan tiến hành tố t ng và người tiến hành tố t ng đều đã th c hiện đúng quy định pháp luật. [2] T i phiên tòa, bị cáo Trần Tiến P đã khai nhận về hành vi mà bị cáo đã th c hiện đúng với nội dung bản cáo tr ng của Viện ki m sát. Hội đồng xét xử có đủ c s đ kết luận: Từ ngày 05/9/2019 đến 12/9/2019, bị cáo Trần Tiến P đã lén lút th c hiện 02 v trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố M Tho. Ngày 05/9/2019, bị cáo P đã lén lút lấy trộm một cái tivi của chị Trần Thị Kiều T. Đến ngày 12/9/2019, bị cáo P l i tiếp t c lấy trộm một xe đ p điện, hai cái máy tính xách tay và một camera của anh Nguyễn Văn V. Tổng giá trị tài sản bị cáo P đã chiếm đo t là 42.460.000 đồng. Bản thân bị cáo P có đầy đủ năng l c chịu trách nhiệm hình s và nhận thức được hành vi của mình là vi ph m pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình th c hiện nên bị cáo P đã ph m tội “Trộm cắp tài sản” theo
- 5 -
quy định t i khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình s . Bị cáo P đã có hai tiền án về tội “Tiêu th tài sản do người khác ph m tội mà có” và tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 27/3/2015, bị cáo P bị Tòa án nhân dân thành phố M Tho xử ph t 04 năm tù về tội “Giao cấu với trẻ em” và bị áp d ng tình tiết tăng nặng “Tái ph m nguy hi m”. Bị cáo P chấp hành xong bản án nêu trên vào ngày 27/6/2018. Đến ngày 05/9/2019, bị cáo P th c hiện hành vi ph m tội với lỗi cố ý nên lần ph m tội này của bị cáo là tái ph m nguy hi m. Bị cáo bị áp d ng tình tiết tăng nặng định khung hình ph t quy định t i đi m g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình s . Viện ki m sát nhân dân thành phố M Tho đã đưa ra chứng cứ buộc tội và truy tố bị cáo P về tội ph m nêu trên là có căn cứ và phù hợp với quy định pháp luật. Hành vi ph m tội của bị cáo P đã xâm ph m tr c tiếp đến quyền s hữu tài sản của công dân được pháp luật Nhà nước ta bảo vệ, hành vi đó không chỉ làm thiệt h i đến tài sản của người khác, mà còn gây hoang mang làm cho nhân dân không an tâm lao động, sản xuất, gây mất trật t xã hội.
Về nhân thân: Bị cáo P không có tiền s .
Bị cáo P có 03 tiền án gồm: Ngày 21/02/2013, bị cáo P bị Tòa án nhân dân thành phố M Tho xử ph t 09 tháng tù về tội “Tiêu th tài sản do người khác ph m tội mà có” (Bản án số 38/2013/HSST); Ngày 11/12/2013, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố M Tho xử ph t 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 194/2013/HSST), ngày 24/4/2014 bị cáo chấp hành xong án ph t tù; Ngày 27/3/2015, bị cáo P bị Tòa án nhân dân thành phố M Tho xử ph t 04 năm tù về tội “Giao cấu với trẻ em” (Bản án số 29/2015/HSST), ngày 27/6/2018 bị cáo đã chấp hành xong án ph t tù. Hội đồng xét xử nhận thấy, bị cáo P có nhân thân xấu, lần ph m tội này của bị cáo th hiện s không chấp hành pháp luật, bị cáo không có ý thức tu dưỡng bản thân đ tr thành người tốt.
Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và t i phiên tòa, bị cáo P thật thà khai báo, ăn năn hối cải và khắc ph c hậu quả nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo theo quy đi m b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình s năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo bị áp d ng tình tiết tăng nặng ph m tội 02 lần tr lên theo quy định t i đi m g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình s năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về trách nhiệm dân s : Bị h i Trần Thị Kiều T và bị h i Nguyễn Văn V đã nhận l i tài sản và không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét. Anh Nguyễn Tấn T1 đồng ý nhận số tiền bồi thường là 1.000.000 đồng và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét. Anh Lê Minh Đ không yêu cầu bị cáo P bồi thường số tiền đã mua tivi nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng v án: C quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố M Tho đã trả l i bị h i Trần Thị Kiều T một tivi Samsung 55inch màu đen và đã trả l i bị h i Nguyễn Văn V: 01 xe đ p điện hiệu HK Bike màu đỏ đen, 01 máy tính xách tay hiệu Asus màu đen, 01 máy tính xách tay hiệu Dell màu đen phía sau có chữ Isnpiron N5110, 01 camera màu trắng ID 13104055. Việc xử lý
- 6 -
vật chứng phù hợp với quy định t i Điều 47 Bộ luật hình s năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố t ng hình s nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Đối với cây xà beng bị cáo P khai đã ném bỏ không xác định được địa đi m nên C quan điều tra không thu hồi được. Bị cáo P đã bán xe mô tô lo i xe Dream màu xanh cho một người đàn ông không rõ họ tên địa chỉ, C quan điều tra không thu hồi được nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với xe mô tô lo i Attila màu đỏ bi n số 63B9.091.04 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô tên Huỳnh Trung H sinh năm 1973; cư trú số 9A2 đường L, phường 5, thành phố M Tho đứng tên. Trong quá điều tra đã xác định: H cho T thuê xe mô tô làm phư ng tiện đi l i. H và T đều không biết bị cáo P sử d ng xe mô tô làm phư ng tiện đi trộm cắp tài sản nên C quan điều tra đã trả l i xe mô tô và giấy đăng ký xe anh H. Việc xử lý vật chứng phù hợp với quy định t i Điều 47 Bộ luật hình s năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố t ng hình s nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với một con dao bấm dài 19,5 cm bằng kim lo i mày đen, 01 bên có cán dao có gắn miếng nh a màu đỏ. Đây là d ng c bị cáo P th c hiện hành vi cậy cửa đ lấy trộm tài sản nên cần tịch thu tiêu hủy. Việc xử lý vật chứng phù hợp với quy định t i Điều 47 Bộ luật hình s năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố t ng hình s nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Lời đề nghị của Ki m sát viên t i phiên tòa về mức hình ph t là có
căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Ki m sát viên.
Về án phí: Bị cáo P phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các l trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Trần Tiến P ph m tội “Trộm cắp tài sản”. Căn cứ đi m b, s khoản 1 Điều 51, đi m g khoản 1 Điều 52, Điều 38 và đi m g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình s năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử ph t bị cáo Trần Tiến P 03 (ba) năm tù. Thời h n tù tính từ ngày bị cáo bị bắt t m giữ là ngày 12 tháng 9 năm 2019. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình s năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố t ng hình s . Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao dài 19,5 cm bằng kim lo i màu đen, 01 bên cán dao có gắn miếng nh a màu đỏ. Hiện nay, vật chứng trên đang bị giữ t i Chi c c thi hành án dân s thành phố M tho (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/12/2019). Ghi nhận C quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố M Tho đã trả cho bị h i Trần Thị Kiều T một tivi Samsung 55inch màu đen; Trả cho bị h i
- 7 -
Nguyễn Văn V: 01 xe đ p điện hiệu HK Bike màu đỏ đen, 01 máy tính xách tay hiệu Asus màu đen, 01 máy tính xách tay hiệu Dell màu đen phía sau có chữ Isnpiron N5110, 01 camera màu trắng ID 13104055 và đã trả cho anh Huỳnh Trung H một xe mô tô lo i Attila màu đỏ bi n số 63B9.091.04 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô.
Về trách nhiệm dân s : Ghi nhận bị h i Trần Thị Kiều T, Nguyễn Văn V và người có quyền lợi nghĩa v liên quan Nguyễn Tấn T1 và Lê Minh Đ không yêu cầu bồi thường.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố t ng hình s và đi m a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Trần Tiến P phải chịu 200.000 đồng án phí hình s s th m.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án s th m trong thời h n 15 ngày k từ ngày tuyên án đ yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử theo thủ t c phúc th m. Riêng bị h i, người có quyền lợi nghĩa v liên quan vắng mặt t i phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án s th m trong thời h n 15 ngày k từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - S Tư pháp tỉnh Tiền Giang; - VKSND Tp M Tho; - Công an Tp M Tho; - C.c THADS Tp M Tho; - Bộ phận thi hành án hình s ; - Các đư ng s ; - Lưu hồ s , án văn. | Mai Thị Mỹ Trang |