- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Tuấn C phạm tội “Trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Phạm Tuấn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2020/HS-ST Ngày : 19/02/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - TP. HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Đức Thụ
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phùng Khánh Đào
Ông Nguyễn Việt Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiên – Thư ký tòa án nhân dân quận Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Trúc Giang - Kiểm sát viên
Ngày 19 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 03/2020/TLST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2020/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:
Phạm Tuấn C, sinh năm 1994 tại Tp. Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: xã A, huyện B, Tp. Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: lái xe; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Phú Q và bà: Trần Thị Thanh H; vợ, con: chưa có; tiền án: Bản án số 357/2015/HSST ngày 15/9/2015 Tòa án nhân dân Tp. Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 06 tháng tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”, bị cáo kháng cáo, Bản án số 217/2016/HSPT ngày 31/5/2016 Tòa án nhân dân cấp cao tại Tp. Hồ Chí Minh y án sơ thẩm, chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/9/2018; tiền sự: không; tạm giữ, tạm giam: 22/10/2019. Có mặt.
- Bị hại: Chị Giang Thúy K, sinh năm 1991, nơi cư trú: phường I, quận K, Tp. Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Bà Trần Thị Thanh H, sinh năm 1974, nơi cư trú: xã A, huyện B, Tp. Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
2. Anh Đồng Tấn C1, sinh năm 1996, nơi cư trú: xã C, huyện B, Tp. Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có bàn bạc từ trước nên trưa ngày 21/7/2019, Đồng Tấn K, sinh ngày 15/6/2001 chạy xe gắn máy đến nhà Phạm Tuấn C tại huyện B, rủ nhau đến đêm sẽ đi tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Đến 00 giờ 15 phút ngày 22/7/2019, C kêu K lấy biển số xe của K là 59Y1-559.40 thay vào xe gắn máy của C (mang biển số 50Y1-337.41) rồi C điều khiển xe gắn máy chở Khoa đi lòng vòng tìm tài sản sơ hở. Khi cả hai đi ngang tiệm áo cưới CUDDID, địa chỉ: 1222 Cách Mạng Tháng T, Phường H, quận G (do chị Giang Thúy K làm chủ) thì thấy cửa tiệm đang đóng, bên ngoài được khóa bằng ổ khóa. C dừng xe lại cách đó 2m, kêu K đứng cảnh giới. Sau đó, C xuống xe đi đến cửa tiệm, dùng tuốc nơ vít và mỏ lết mang theo trước đó bẻ khoen móc khóa cửa. Khi C mới bẻ gãy được khoen cửa thì bị tổ tuần tra Công an Phường 4, quận Tân Bình phát hiện bắt giữ C và K đưa về trụ sở làm việc.
Tại Cơ quan công an, C và K đã thừa nhận hành vi phạm tội như nêu trên. Do K chưa có tiền án, tiền sự nên hành vi của K chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, Công an quận Tân Bình đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Khoa.
Vật chứng thu giữ:
- 01 xe gắn máy biển số 50Y1-337.41, qua xác minh chủ sở hữu là bà Trần Thị Thanh H (mẹ Cảnh). Bà H không biết C sử dụng vào việc phạm tội.
- 01 biển số xe 59Y1-559.40 là của anh Đồng Tấn C1 (anh của K). Anh Đồng Tấn C1 không biết K sử dụng biển số trên vào việc phạm tội.
- 01 điện thoại di động và số tiền 540.000 đồng thu giữ của K. K khai đây là tài sản cá nhân, không liên quan đến việc phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Tân Bình đã trả lại cho K.
- 02 mỏ lết, 01 tua vít, 02 kềm, 03 đoản, 01 đèn pin và 02 thanh sắt thu giữ của C, là dụng cụ dùng để phá ổ khóa.
- 01 điện thoại di động hiệu MI màu đen và 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đỏ thu giữ của C.
Tại bản cáo trạng số 06/CT-VKS ngày 31 tháng 12 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đã truy tố bị cáo Phạm Tuấn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Trong phần luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình nêu tóm tắt nội dung vụ án, các nguyên nhân điều kiện phát sinh tội phạm, tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nêu các tình tiết giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Về vật chứng thì đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, không có tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Phạm Tuấn C, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Tân Bình, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình được phân công điều tra giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; bị cáo, bị hại, không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.
Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, bản kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của người làm chứng cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận bị cáo Phạm Tuấn C có một tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích mà lại lén lút dùng dụng cụ bẻ khóa cửa tiệm áo cưới CUDDID của chị Giang Thúy K nhằm chiếm đoạt tài sản bên trong, khi vừa bẻ khóa cửa nhà được thì bị cáo đã bị công an phát hiện và bắt giữ, đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do bị cáo mới bẻ khóa cửa xong, chưa kịp lấy tài sản bên trong nhà thì đã bị phát hiện và bắt giữ, thuộc trường hợp “Phạm tội chưa đạt”, là tình tiết quyết định hình phạt được quy định tại khoản 3 Điều 57 Bộ luật hình sự.
Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo là nghiêm trọng và gây nguy hiểm cho xã hội. Nó vừa trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu, quản lý tài sản hợp pháp của công dân được Nhà nước và pháp luật bảo hộ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo đã thành niên, đủ khả năng nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác bị pháp luật ngăn cấm và bị trừng trị nhưng do động cơ tham lam nên bị cáo đã cố tình thực hiện tội phạm một cách liều lĩnh, bất chấp sự trừng trị của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết áp dụng hình phạt tù thật nghiêm nhằm mục đích giáo dục, cải tạo bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ: Hội đồng xét xử xem xét tình tiết: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Giang Thúy K không có yêu cầu gì đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tang vật vụ án:
- 01 xe gắn máy biển số 50Y1-337.41, qua xác minh chủ sở hữu là bà Trần Thị Thanh H (mẹ C). Bà H không biết C sử dụng vào việc phạm tội và có yêu cầu nhận lại xe. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của bà H là có cơ sở nên chấp nhận.
- 01 biển số xe 59Y1-559.40 là của anh Đồng Tấn C1 (anh của K). Anh Đồng Tấn C1 không biết K sử dụng biển số trên vào việc phạm tội và có yêu cầu nhận lại biển số trên. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của anh Đồng Tấn C1 là có cơ sở nên chấp nhận.
- 01 điện thoại di động hiệu MI màu đen và 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đỏ thu giữ của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy đây là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
- 02 mỏ lết, 01 tua vít, 02 kềm, 03 đoản, 01 đèn pin và 02 thanh sắt là những vật không có giá trị nên tịch thu và tiêu hủy.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; Điều 15; khoản 3 Điều 57 và điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106; Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
[1] Tuyên bố bị cáo Phạm Tuấn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo: Phạm Tuấn C 01 (một) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 22/10/2019.
[2] Tịch thu và tiêu hủy: 01 mỏ lết dài 30cm có cán cầm tay màu đen hiệu Fulod; 01 mỏ lết dài khoảng 25cm tay cầm bị cong hiệu Forged; 01 cây tuốc nơ vít có cấn tay cầm màu đỏ, trắng, 02 đầu, dài khoảng 30cm; 01 cây kìm đầu dẹp có cán tay cầm màu đỏ đen dài khoảng 20cm; 01 cây kìm cắt, tay cầm màu cam, dài khoảng 10cm; 03 cây đoản mở khóa dầu dẹp dài khoảng 5cm; 01 đèn pin màu đen dài khoảng 7cm; 01 thanh chìa khóa số 8 dùng để mở ốc vít bị sét dài khoảng 10cm và 01 thanh chìa khóa số 10 dùng để mở ốc vít dài khoảng 30cm.
Trả lại cho bà Trần Thị Thanh H 01 xe gắn máy biển số 59Y1-559.40, số khung: RLHJA3904HY756515, số máy: JA39E-0736689.
Trả lại cho anh Đồng Tấn C1 01 biển số 50Y1-337.41.
Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu MI màu đen, số imei 1: 86961703471083, số imei 2: 869617035181081 và 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đỏ, số imei 1: 866269041614037, số imei 2: 866269041614029.
(Theo phiếu nhập kho vật chứng số 182/PNK ngày 21/10/2019 của Công an quận Tân Bình).
[3] Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4] Trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Tp. Hồ Chí Minh. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án.
| Nơi nhận: - Bị cáo, bị hại; - Người có QL,NV liên quan; - Công an quận Tân Bình; - VKSND quận Tân Bình; - Chi cục THADS quận Tân Bình; - TAND, VKSND Tp. Hồ Chí Minh; - Phòng HSNVCS CA Tp. HCM; - Sở Tư pháp Tp. Hồ Chí Minh; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Ngô Đức Thụ |