vanban.org

Bản án 08/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 10/03/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Nguyễn Văn Đ 24 (hai mươi bốn) tháng tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 26/11/2019. Về án phí: Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Đ - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN TÁNH LINH
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2020/HS-ST
Ngày: 10-3-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Văn Bình.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Giáp Hà Tĩnh và Bà Bùi Thị Luyến.

- Thư ký phiên tòa: Ông Biện Việt Cường - Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 03 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 06/2020/TLST-HS ngày 17 tháng 12 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2020/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:

NGUYỄN VĂN Đ , sinh năm 1993; Tại: Bình Thuận; Nơi cư trú: Thôn A, xã G, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1961 và bà Ngô Thị T, sinh năm 1961; Tiền án: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2016/HSST ngày 25/7/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/4/2018; Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2018/HS-ST ngày 26/9/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/11/2019; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 02/02/2012 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Thuận ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính “Đưa vào cơ sở giáo dục” với thời hạn 24 tháng về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”. Chấp hành xong ngày 09/11/2013; Gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là con út. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 26/11/2019 đến ngày 28/11/2019 chuyển sang tạm giam; Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận. Có mặt.

+ Bị hại: Đỗ Thị V, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Thôn A, xã G, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận. (Vắng mặt. Có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ ngày 26/11/2019, Nguyễn Văn Đ đi bộ lòng vòng ngoài đường để tìm nhà dân nào sơ hở thì đột nhập vào trộm cắp tài sản. Khi đi ngang qua nhà chị Đỗ Thị V ở Thôn A, xã G, huyện Tánh Linh, Đ nhìn thấy không có chó sủa nên đi vòng quanh nhà chị V, Đ nhìn thấy cửa sổ bên hông nhà chị V có một cánh cửa không đóng và khung cửa có 01 thanh bảo vệ cửa sổ bằng gỗ bị hư, mục nên Đ dùng tay bẻ gãy thanh gỗ rồi chui người vào trong nhà chị V. Đ mở cửa chính nhà chị V ra, đi vào phòng ngủ thấy 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy Note 8 đang xạc pin, Đ rút dây xạc ra và lấy điện thoại bỏ vào túi quần; Đ tiếp tục lục trong túi quần Jean treo trên tường lấy 750.000 đồng bỏ vào túi quần rồi đi về nhà tháo sim điện thoại vứt bỏ. Đến khoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày, Công an xã G làm việc với Đ thì Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Tánh Linh thu giữ 01 điện thoại di động hiệu Sam sung Galaxy Note 8 và 750.000 đồng do Nguyễn Văn Đ và gia đình giao nộp. Ngày 10/01/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Tánh Linh đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại toàn bộ tài sản nêu trên cho bị hại Đỗ Thị V. Chị V đã nhận lại toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt. Quá trình điều tra, chị V không yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự trong vụ án. Về trách nhiệm hình sự, chị V đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại Bản cáo trạng số 07/CT-VKSND-TL ngày 13/02/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đvề tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh: Giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đvề tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, bị hại xin giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ mức án từ 24 tháng đến 30 tháng tù.

- Ý kiến của bị cáo: Không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Tánh Linh, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về việc vắng mặt của bị hại: Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Tánh Linh đã thu thập đầy đủ lời khai bị hại Đỗ Thị V. Chị V đã nhận lại toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự, có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy việc vắng mặt của bị hại tại phiên tòa không ảnh hưởng đến nội dung, bản chất của vụ án nên căn cứ vào Điều 292, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị hại.

Hội đồng xét xử xét thấy: Khoảng 01 giờ ngày 26/11/2019, tại nhà chị Đỗ Thị V ở Thôn A, xã G, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận. Bị cáo Nguyễn Văn Đ đã lợi dụng đêm tối, sự sơ hở của bị hại, bị cáo đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 điện thoại di động hiệu Sam sung Galaxy Note 8 màu đen của chị Đỗ Thị V trị giá 2.933.000 đồng và số tiền 750.000 đồng. Tổng cộng số tiền đã chiếm đoạt của bị hại là 3.683.000 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn Đ là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và khung hình phạt được quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo có quá trình nhân thân rất xấu, đã bị áp dụng biện pháp xử phạt hành chính “Đưa vào cơ sở giáo dục”, đã nhiều lần bị kết án về hành vi chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích, sau khi chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương sinh sống, bị cáo không chịu lao động chân chính để tự nuôi sống bản thân, làm công dân có ích cho gia đình và xã hội mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với tính chất, mức độ hành vi phạm tội ngày càng nguy hiểm hơn. Vì vậy lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết định khung hình phạt “Tái phạm nguy hiểm”.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, mặt khác giá trị tài sản bị chiếm đoạt không lớn, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét áp dụng cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị hại đã nhận lại toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Căn cứ: Điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Nguyễn Văn Đ 24 (hai mươi bốn) tháng tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 26/11/2019.

2. Về án phí: Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (10/3/2020). Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ