- Tranh chấp gì? án hình sự — "NHD Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CM TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2020/HS-ST Ngày 10-3-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CM, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hoàng Thị Thanh Tú.
2. Ông Triệu Quang Trân
- Thư ký phiên toà: Ông Bảo Thanh Toàn - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện CM, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CM, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Ông Hoàng Đức Dũng - Kiểm sát viên.
Trong các ngày từ 06/3/2020 đến ngày 10/3/2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện CM, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2020/HSST, ngày 10 tháng 01 năm 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2020/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 02 năm 2020 và các quyết định hoãn phiên tòa: số 02/2020/HSST - QĐ ngày 20/02/2020; số 04/2020/HSST - QĐ ngày 27/02/2020 đối với bị cáo:
Nông Hải Đ, sinh ngày: 28/5/1987; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay:T1, phường TH, TN, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Đảng, đoàn thể: Không; Con ông Nông Thanh Diện và bà Nguyễn Thị Toàn; Bị cáo có 02 con; Tiền án: Không; tiền sự: 01 tiền sự, ngày 31/12/2018 bị Công an TN, tỉnh Thái Nguyên xử phạt hành chính 2.500.000đ về hành vi "Xâm hại sức khỏe của người khác, đến nay Nông Hải Đ vẫn chưa thi hành tiền phạt.
Bị cáo bị tạm giữ từ 25/11/2019, đến ngày 04/12/2019 thì bị tạm giam từ đó cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Nguyễn Đức M, sinh năm 1976. Có mặt.
Địa chỉ: T5, thị trấn CM, huyện CM, tỉnh Bắc Kạn.
Địa chỉ: Thôn PS 2, xã Yên Đĩnh, huyện CM, tỉnh Bắc Kạn.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Nông M C, sinh năm 1979.
Địa chỉ: T13, phường TH, TN, tỉnh Thái Nguyên. (Ngầy 06/3/2020 có mặt tại phiên tòa nhưng ngày 10/3/2020 vắng mặt tại phiên tòa).
- Công ty TNHH MTV NT.
Địa chỉ: T1, TTDT, huyện CM, tỉnh Bắc Kạn.
Đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH MTV NT: Bà Hoàng Huyền T - Chức vụ: Giám đốc công ty. (Vắng mặt).
Đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Hoài N, sinh năm 1981.
Địa chỉ: T1, TTDT, huyện CM, tỉnh Bắc Kạn. (Có mặt).
* Người làm chứng:
- Nguyễn Đức Ph, sinh năm 1982. (Vắng mặt).
Địa chỉ: T16C, phường HS, TN, tỉnh Thái Nguyên.
- Vũ Văn Q, sinh năm 1979. (Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn BC, xã NC, huyện CM, tỉnh Bắc Kạn.
- Hoàng Thị L. (Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn CP, xã TB, huyện CM, tỉnh Bắc Kạn.
- Hoàng Doãn Q. (Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn CP, xã TB, huyện CM, tỉnh Bắc Kạn.
- Cao Văn L, sinh năm 1984.
Địa chỉ: T1, TTDT, huyện CM, tỉnh Bắc Kạn. (Có mặt).
- Hoàng Thị TT, sinh năm 1994.
Địa chỉ: Tổ 8, phường GS, TN, tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt).
- Trần Hoài N, sinh năm 1981.
Địa chỉ: T1, TTDT, huyện CM, tỉnh Bắc Kạn. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20h45 phút ngày 24/11/2019, Nguyễn Đức Ph và Nông Hải Đ lên xe ta xi của anh Nguyễn Đức M để đi từ nhà hàng Biên Hương thuộc xã Yên Đĩnh, huyện CM, tỉnh Bắc Kạn về Công ty Kim An An thuộc khu công nghiệp TB, xã TB, huyện CM, tỉnh Bắc Kạn. Khi về đến cổng công ty Kim An An, anh P xuống xe và thanh toán tiền cước xe cho anh M. Lúc này, Nông Hải Đ vẫn ngồi trên xe và yêu cầu anh M tiếp tục đưa Đ đi TN, tỉnh Thái Nguyên. Do có hẹn với khách hàng khác nên anh M từ chối nhưng Đ vẫn yêu cầu và bắt anh M phải đưa mình đi. Thấy vậy, anh M xuống xe và mở cửa xe, yêu cầu Đ ra khỏi xe. Đ xuống xe và hai bên xảy ra cãi cọ, mâu thuẫn. Đ dùng chai nhựa đánh anh M, anh M phản ứng và dùng tay đánh lại Đ. Thấy anh M đánh lại mình, Đ lấy trong túi quần ra một con dao (loại dao bấm) đâm nhiều nhát về phía anh M, trong đó có 01 nhát trúng vào vùng cổ bên trái, anh M bỏ chạy thì Đ tiếp tục đâm một nhát trúng vào bên sườn phải của anh M. Anh M bị thương và bỏ chạy ra phía đường quốc lộ 3 và vào nhà chị Hoàng Thị L gần đó. Sau khi đâm anh M và thấy anh M bỏ chạy, Đ tiếp tục đuổi theo, trên đường đuổi theo anh M, Đ nhặt một viên gạch và một chiếc xẻng cầm trên tay, mục đích là để dùng làm công cụ đánh anh M tiếp, khi ra đến nhà chị Lành, lúc này Đ thấy trên người anh M chảy máu và chị chủ nhà ra can ngăn nên Đ bỏ đi, sau đó Đ bắt xe ta xi của anh Cao Văn L đi về Thái Nguyên.
Sau khi sự việc xảy ra, anh M được đưa đến Trung tâm y tế huyện CM sơ cứu, sau đó được chuyển đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên và điều trị tại đó đến ngày 06/12/2019 thì ra viện.
Khi xảy ra sự việc xô xát giữa Đ và anh M thì Nguyễn Đức Ph cũng có mặt ở đó và đã vào can ngăn hai người nhưng không được. Ngoài ra còn có anh Vũ Văn Q là bảo vệ của công ty Kim An An đang ở gần đó chứng kiến sự việc.
Tại Bản kết luận giám định pháp y thương tích số: 186/TgT, ngày 25/11/2019 của Trung tâm pháp y, Sở Y tế tỉnh Bắc Kạn kết luận: "Tổn thương 1: Một vết thương phần mềm ở vùng lưng bên phải, có kích thước 02cm x 0,1cm, sắc gọn, vết thương thấu thành ngực sau, tổn thương màng phổi phải, tỷ lệ phần trăm tồn thương cơ thể là 12,56%; Tổn thương 2: Một vết thương phần mềm vùng cổ trái, có kích thước 03cm x 0,1cm, sắc gọn, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 0,87%; Tổn thương 3: Một vết mổ dẫn lưu màng phổi vùng ngực bên trái, có kích thước 01cm x 0,1cm, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 0,86%. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra ra là 13,43%; Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 14% (đã làm tròn số).
Ngay sau khi vụ án xảy ra, vào hồi 22 giờ 37 phút ngày 24/11/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện CM, tỉnh Bắc Kạn tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu: 01 chai nước nhựa màu trắng, có nắp chai màu xanh, bên trong có chứa nước màu nâu; 01 chiếc pin điện thoại có dòng chữ NOKIA; tạm giữ 01 xe ô tô BKS 97A - 032.69 tại hiện trường; 01 giấy biên nhận thế chấp ngân hàng Nông nhiệp và PTNT chi nhánh huyện CM kèm theo bản phô tô chứng nhận Đ ký xe ô tô BKS 97A – 032.69; 01 giấy chứng nhận kiểm định số 9250395 do Công ty cổ phần Đ kiểm Bắc Kạn cấp ngày 11/6/2019; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô do Công ty bảo hiểm Bưu điện Thái Nguyên cấp ngày 10/6/2019
Cơ quan điều tra đã tổ chức truy tìm con dao mà Nông Hải Đ dùng để gây thương tích cho anh M nhưng không thu giữ được.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, Nông Hải Đ đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 chai nước nhựa màu trắng, có nắp chai màu xanh, bên trong có chứa nước màu nâu; 01 chiếc pin điện thoại có dòng chữ NOKIA; tạm giữ 01 xe ô tô BKS 97A - 032.69; 01 điện thoại di động nhãn hiệu GALAXY S5 màu đen, cũ, đã qua sử dụng, kèm theo sim điện thoại có số thuê bao 0915.872.899; 01 giấy biên nhận thế chấp ngân hàng Nông nghiệp và PTNT chi nhánh huyện CM kèm theo bản phô tô chứng nhận Đ ký xe ô tô BKS 97A – 032.69; 01 giấy chứng nhận kiểm định số 9250395 do Công ty cổ phần Đ kiểm Bắc Kạn cấp ngày 11/6/2019; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô do Công ty bảo hiểm Bưu điện Thái Nguyên cấp ngày 10/6/2019. Ngày 12/12/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho anh Nguyễn Đức M 01 xe ô tô BKS 97A - 032.69; 01 điện thoại di động nhãn hiệu GALAXY S5 màu đen, cũ, đã qua sử dụng, kèm theo sim điện thoại có số thuê bao 0915.872.899.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Đức M yêu cầu Nông Hải Đ bồi thường số tiền thiệt hại về sức khỏe, tiền viện phí, tiền mất thu nhập, tiền công người phục vụ……Tổng cộng các khoản là 212.877.000 đồng (Hai trăm mười hai triệu tám trăm bảy mươi bảy nghìn đồng). Bị cáo không đồng ý với mức bồi thường này và đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật. Bị cáo đã bồi thường cho anh M số tiền 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng).
Tại phiên toà sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố tại bản cáo trạng số 04/CT - VKSCM ngày 09/01/2020 truy tố bị cáo Nông Hải Đ về tội “Cố ý gây thương tích” và tại bản luận tội của Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cụ thể như sau:
- Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Nông Hải Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt: Bị cáo Nông Hải Đ từ 30 đến 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 25/11/2019.
- Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 357, 584, 585, 586, 590. Buộc bị cáo Đ phải bồi thường cho bị hại Nguyễn Đức M số tiền 43.289.000đ (Bốn mươi ba triệu hai trăm tám mươi chín nghìn đồng). Bị cáo đã bồi thường được 40.000.000đ, buộc bị cáo bồi thường tiếp cho bị hại 3.289.000đ.
- Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47/BLHS và Điều 106/BLTTHS, tịch thu, tiêu hủy: 01 chai nhựa màu trắng, có nắp màu xanh, bên trong có chứa chất lỏng màu nâu; 01 pin điện thoại di động hình chữ nhật màu đen có dòng chữ NOKIA.
Trả lại cho bị hại Nguyễn Đức M 01 giấy biên nhận thế chấp ngân hàng Nông nghiệp và PTNT chi nhánh huyện CM kèm theo bản phô tô chứng nhận Đ ký xe ô tô BKS 97A – 032.69; 01 giấy chứng nhận kiểm định số 9250395 do Công ty cổ phần Đ kiểm Bắc Kạn cấp ngày 11/6/2019; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô do Công ty bảo hiểm Bưu điện Thái Nguyên cấp ngày 10/6/2019.
- Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Nông Hải Đ nói lời sau cùng có ý kiến mong Hội đồng xét xử xem xét xử với mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện CM, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện CM, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Tại phiên toà, bị cáo Nông Hải Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 50 phút ngày 24/11/2019, tại khu vực cổng trụ sở Công ty TNHH Kim An An, khu công nghiệp TB thuộc xã TB, huyện CM, tỉnh Bắc Kạn, do mâu thuẫn cá nhân nên Nông Hải Đ đã có hành vi dùng một con dao bấm có chiều dài khoảng 20cm (là hung khí nguy hiểm) đâm và gây nên 02 vết thương cho anh Nguyễn Đức M. Hậu quả, anh M bị thương tích với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 14% .
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Điều luật có nội dung:
""1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:………..
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:...
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 31% nhưng thuộc một trong các trường hợpquy dịnh tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này..."
Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 26/10/2007 bị tòa án nhân dân TN, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Hủy hoại tài sản”; Ngày 12/7/2010 bị Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 24 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”; Ngày 01/11/2001 bị công an phường Quang Trung, TN, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 200.000đ về hành vi đánh nhau, gây rối trật tự công cộng; Ngày 13/01/2004 gây rối trật tự công cộng bị công an TN xử lý vi phạm hành chính; Ngày 27/8/2007 gây rối trật tự công cộng bị công an phường Phan Đình Phùng, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 350.000đ; Ngày 12/9/2009 đánh nhau, bị công an huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên xử lý vi phạm hành chính; Ngày 24/10/2010 Cố ý gây thương tích, bị công an TN ra quyết định khởi tố bị can, sau đó đình chỉ do bị hại rút đơn, bị xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000đ; Ngày 08/6/2015 gây rối trật tự công cộng, bị Công an TN, tỉnh Thái Nguyên xử phạt vi phạm hành chính 3.000.000đ; Ngày 31/12/2018 xâm hại sức khỏe của người khác, bị công an TN xử phạt vi phạm hành chính 2.500.000đ (Nông Hải Đ chưa thi hành quyết định này); Ngoài ra, hiện nay Công an TN đang thụ lý, xác minh tin báo Nông Hải Đ dùng dao gây thương tích cho người khác vào ngày 08/6/2019 tại TN, chưa có kết quả xử lý tin báo, chưa khởi tố vụ án. Như vậy, bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Sau khi xảy ra sự việc, bị cáo đã tac động gia đình, tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 40.000.000đ; .Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là cố ý, đã xâm phạm sức khoẻ của người khác được pháp luật bảo vệ. Sau khi xem xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử sơ thẩm xét thấy bị cáo là người đã nhiều lần vi phạm pháp luật, đã bị các cơ quan có thẩm quyền xử lý nhiều lần, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục vi phạm pháp luật, chứng tỏ bị cáo rất coi thường kỷ cương pháp luật của Nhà nước, coi thường quy tắc đạo đức xã hội. Do vậy, cần xử lý nghiêm khắc, có mức án phù hợp, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.
Về trách nhiệm dân sự: Trong giai đoạn điều tra, bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường cho bị hại các khoản sau: Tiền viện phí, tiền chuyền đạm; tiền mất thu nhập, tiền ăn của người chăm sóc trong thời gian bị hại nằm viện; tiền xe đi lại; tiền chụp cắt lớp; thiệt hại về sức khỏe; tiền mất thu nhập trong thời gian nằm viện… .Tổng cộng là 212.877.000đ.
Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu bồi thường của bị hại là quá cao. Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận các khoản sau: Tiền viện phí tại Trung tâm y tế huyện CM là 200.990đ; Thuê xe đi cấp cứu: 1.200.000đ; Tiền viện phí: 18.442.000đ;Tiền mất thu nhập khi nằm viện: 12 ngày x 270.000đ (Căn cứ vào mức lương của bị hại) = 3.240.000đ; Tiền công người phục vụ: 01 người x 200.000đ/ngày x 12 ngày = 2.400.000đ; Tiền nghỉ dưỡng sức sau khi ra viện: 10 ngày x 270.000đ = 2.700.000đ; Tiền xe khi xuất viện = 500.000đ; Tiền cắt chỉ khâu: 350.000đ; Tiền tổn thất tinh thần = 10 tháng lương cơ sở x 1.490.000đ = 14..900.000đ; Tiền mất thu nhập từ việc cho thuê xe: 300.000đ/ngày x 18 ngày = 5.400.000đ.
Tổng cộng các khoản mà bị cáo phải bồi thường cho bị hại Nguyễn Đức M là 49.332.990đ (làm tròn số 49.333.000đ). Bị cáo đã bồi thường được 40.000.000đ, bị cáo còn phải bồi thường tiếp cho bị hại số tiền là 9.333.000đ.
Về vật chứng của vụ án: Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu, tiêu hủy: 01 chai nhựa màu trắng, có nắp màu xanh, bên trong có chứa nước màu nâu; 01 pin điện thoại di động hình chữ nhật màu đen có dòng chữ NOKIA.
Cần trả lại cho bị hại Nguyễn Đức M 01 giấy biên nhận thế chấp ngân hàng Nông nghiệp và PTNT chi nhánh huyện CM kèm theo bản phô tô chứng nhận Đ ký xe ô tô BKS 97A – 032.69; 01 giấy chứng nhận kiểm định số 9250395 do Công ty cổ phần Đ kiểm Bắc Kạn cấp ngày 11/6/2019; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô do Công ty bảo hiểm Bưu điện Thái Nguyên cấp ngày 10/6/2019.
Ngày 12/12/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho anh Nguyễn Đức M 01 xe ô tô BKS 97A - 032.69; 01 điện thoại di động nhãn hiệu GALAXY S5 màu đen, cũ, đã qua sử dụng, kèm theo sim điện thoại có số thuê bao 0915.872.899. Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp với các quy định của pháp luật.
Trong vụ án này còn có Cao Văn L là người lái xe ta xi đưa Nông Hải Đ từ CM về Thái Nguyên ngay sau khi xảy ra việc Đ gây thương tích cho anh M. Anh Lợi khai, Đ có hành vi dùng dao uy hiếp anh Lợi, buộc anh Lợi phải đưa Đ đi, mặc dù anh Lợi không muốn, trên đường đi, Đ còn lấy của anh Lợi tờ tiền 100.000đ để trả tiền khi qua trạm thu phí, số tiền thừa sau khi trả phí Đ tự lấy cho vào túi mình, không hỏi anh Lợi. Tuy nhiên, Đ không thừa nhận hành vi này. Tại phiên tòa, anh Trần Hoài N cho rằng anh Lợi bị uy hiếp vì anh Nam đã gọi điện thoại cho anh Lợi, yêu cầu anh Lợi không được đưa khách về Thái Nguyên nhưng anh Lợi không nghe điện thoại và chống lệnh điều hành của công ty. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy, việc anh Lợi không nghe điện thoại của anh Nam, chống lại lệnh điều hành của công ty không phải là chứng cứ chứng minh anh Lợi bị đe dọa, uy hiếp. Do đó không có cơ sở để xem xét, xử lý.
Về án phí: Bị cáo Đ phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QuyÕt ®Þnh:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nông Hải Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017:
Xử phạt bị cáo Nông Hải Đ 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584, 585, 589, 590 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Nguyễn Đức M là 49.332.990đ (làm tròn số 49.333.000đ). Bị cáo đã bồi thường được 40.000.000đ, bị cáo còn phải bồi thường tiếp cho bị hại số tiền là 9.333.000đ (Chín triệu ba trăm ba mươi ba nghìn đồng).
3. Về Vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017; Điều 106/BLTTHS 2015:
Tịch thu, tiêu hủy 01 chai nhựa màu trắng, có nắp màu xanh, bên trong có chứa nước màu nâu; 01 pin điện thoại di động hình chữ nhật màu đen có dòng chữ NOKIA.
Trả lại cho bị hại Nguyễn Đức M 01 giấy biên nhận thế chấp ngân hàng Nông nghiệp và PTNT chi nhánh huyện CM kèm theo bản phô tô chứng nhận Đ ký xe ô tô BKS 97A – 032.69; 01 giấy chứng nhận kiểm định số 9250395 do Công ty cổ phần Đ kiểm Bắc Kạn cấp ngày 11/6/2019; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô do Công ty bảo hiểm Bưu điện Thái Nguyên cấp ngày 10/6/2019.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận ngày 10 tháng 01 năm 2020 giữa Công an huyện CM và Chi cục Thi hành án dân sự huyện CM).
4.Về án phí: Áp dụng Điều 136/BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí: Bị cáo Nông Hải Đ phải chịu 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm và 466.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ quan Công TNHH NT. Báo cho biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nông M C. Báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Kạn; - VKSND huyện CM; - Công an huyện CM; - Chi cục THADS huyện CM; - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Kạn; - Bị cáo; - Bị hại; - Người có QL&NVLQ; - Lưu hồ sơ vụ án HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hiền THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |