vanban.org

Bản án 08/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 07/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn K-bc phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Giao bị cáo K-bc cho Ủy ban nhân dân thị trấn Thứ 11, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành án. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo trong giai đoạn thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản bc K - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1- Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn K-bc phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 08/2020/HS-ST
Ngày: 07-5-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đoàn Thị Huệ

Ông Nguyễn Hữu Cương

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đông Hải - Kiểm sát viên

Ngày 07 tháng 5 năm 2020 tại Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2020/TLST-HS ngày 16 tháng 3 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2020/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn K-bc, sinh năm 1986 tại huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang. Nơi cư trú kp 4, T 11, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp không ổn định; trình độ văn hóa 6/12; quốc tịch Việt Nam; dân tộc Kinh; giới tính nam; tôn giáo không; con ông Nguyễn Văn Th (đã chết) và bà Lê Thị L; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại. (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo: ông Trần Tuấn Anh, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Kiên Giang; (có mặt)

- Bị hại: ông Huỳnh Thanh K-bh, sinh năm 1990. Địa chỉ: ấp NT, xã VKĐ, huyện An Minh, Kiên Giang; (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 02 giờ ngày 02 tháng 11 năm 2019, Nguyễn Văn K-bc đi chơi Hội chợ về ngang nhà anh Huỳnh Thanh K-bh thuộc kp 3, T 11 thì K-bc phát hiện nhà anh K-bh không khóa cửa nên nảy sinh ý định đột nhập vào nhà anh K-bh để tìm tài sản lấy trộm. K-bc vào nhà thì phát hiện phía đầu giường nơi anh K-bh nằm ngủ có 01 cái ví da và 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Chilli B31, màu đen, nên lén lút lấy trộm rồi đi ra ngoài. Sau đó, K-bc đi về nhà ở kp 4, thị trấn Thứ 11 lấy tài sản vừa trộm cắp được ra kiểm tra thì thấy bên trong ví có số tiền 3.182.000 đồng; 05 tờ ngoại tệ gồm: 01 tờ tiền Hoa Kỳ mệnh giá 01 đô la, 01 tờ tiền Singapore mệnh giá 02 đô la, 01 tờ tiền Trung Quốc mệnh giá 10 yuan, 01 tờ tiền Campuchia mệnh giá 100 riel và 01 tờ tiền Hàn Quốc mệnh giá 1000 won; một số giấy tờ gồm: 01 giấy chứng minh nhân dân, 01 giấy phép lái xe hạng A1, 01 giấy phép lái xe hạng C, 01 thẻ bảo hiểm y tế, 01 giấy chứng nhận tập huấn nghiệp vụ lái xe vận tải kinh doanh, 01 giấy chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy cứu nạn cứu hộ cùng tên Huỳnh Thanh K-bh và 01 giấy đăng ký xe máy tên chủ xe Huỳnh Thanh On. K-bc lấy toàn bộ số tiền 3.182.000 đồng và 05 tờ ngoại tệ để vào ví của mình rồi đem cái ví của anh K-bh cất giấu ở phía sau tượng phật trong nhà K-bc, còn cái điện thoại di động thì cất giấu trên vách nhà, rồi đi ngủ. Sáng hôm sau K-bc lấy số tiền trộm được tiêu xài hết 55.000 đồng. Sau đó K-bc bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện An Minh mời về làm việc, tại Cơ quan Cảnh sát điều tra K-bc đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của anh K-bh và tự nguyện giao nộp lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra.

Tại kết luận về việc định giá tài sản số: 40/KL-HĐĐG ngày 03 tháng 12 năm 2019 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện An Minh, kết luận:

- 01 (Một) điện thoại hiệu Chilli B31, giá trị thực tế còn lại là 115.000 đồng.

- 01 (Một) tờ tiền Hoa Kỳ mệnh giá 01 đô la (one Dolla), vào thời điểm ngày 02/11/2019 có giá trị 23.200 đồng;

- 01 (Một) tờ tiền Singapore mệnh giá 02 đô la (two Dolla), vào thời điểm ngày 02/11/2019 có giá trị 34.090 đồng;

- 01 (Một) tờ tiền Trung Quốc mệnh giá 10 yuan, vào thời điểm ngày 02/11/2019 có giá trị 32.940 đồng;

- 01 (Một) tờ tiền Campuchia mệnh giá 100 riel, vào thời điểm ngày 02/11/2019 có giá trị 575 đồng;

HSST số: 08/2020-2

- 01 (Một) tờ tiền Hàn Quốc mệnh giá 1000 won, vào thời điểm ngày 02/11/2019 có giá trị 19.990 đồng;

- 01 (Một) ví da không rõ nhãn hiệu, vào thời điểm ngày 02/11/2019 có giá trị còn lại là 174.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản cần định giá: 399.795 đồng.

Bị can Nguyễn Văn K-bc đã giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Minh số vật chứng gồm:

+ 3.127.000 đồng tiền Việt Nam.

+ 05 (Năm) tờ ngoại tệ gồm: 01 tờ tiền Hoa Kỳ mệnh giá 01 đô la, 01 tờ tiền Singapore mệnh giá 02 đô la, 01 tờ tiền Trung Quốc mệnh giá 10 yuan, 01 tờ tiền Campuchia mệnh giá 100 riel và 01 tờ tiền Hàn Quốc mệnh giá 1000 won.

+ 01 (Một) cái ví da màu đen không rõ nhãn hiệu, bên trong có một số giấy tờ như sau: 01 giấy chứng minh nhân dân tên Huỳnh Thanh K-bh, số 371274485; 01 giấy phép lái xe hạng A1 tên Huỳnh Thanh K-bh, số 790148026720; 01 giấy phép lái xe hạng C tên Huỳnh Thanh K-bh, số 790148026720; 01 thẻ bảo hiểm y tế tên Huỳnh Thanh K-bh, mã số DN 2919122926029; 01 giấy chứng nhận tập huấn nghiệp vụ lái xe vận tải kinh doanh tên Huỳnh Thanh K-bh; 01 giấy chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy cứu nạn cứu hộ tên Huỳnh Thanh K-bh và 01 giấy đăng ký xe máy tên chủ xe Huỳnh Thanh On.

+ 01 (Một) điện thoại di động hiệu Chilli B31, màu đen, cũ, đã qua sử dụng.

Đã được trả cho anh Huỳnh Thanh K-bh.

+ 02 (Hai) tờ vé số kiến thiết tỉnh Long An ngày 02/11/2019 số: 686533 K-bc dùng tiền trộm cắp để mua, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã đưa vào hồ sơ vụ án.

Anh Huỳnh Thanh K-bh đã nhận lại số tài sản bị mất, còn số tiền 55.000 đồng mà bị can K-bc đã tiêu xài anh K-bh không yêu cầu bồi thường.

Tại Cáo trạng số 08/CTr-VKS ngày 03-3-2020 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang truy tố Nguyễn Văn K-bc về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

- Kiểm sát viên kết luận bị cáo K-bc phạm tội trộm cắp tài sản và đề nghị áp dụng điểm h, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 173 Bộ luật

HSST số: 08/2020-3

hình sự xử phạt bị cáo K-bc từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ; miễn khấu trừ thu nhập. Về trách nhiệm dân sự, bị hại đã nhận lại đủ tài sản, không yêu cầu thêm nên đề nghị không xem xét.

- Bị cáo K-bc thừa nhận đã thực hiện hành vi như Cáo trạng đã nêu và K-bh luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

- Người bào chữa: thống nhất về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ, loại hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị. Xin xem xét thêm bị cáo đã thật sự ăn năn hối cải; tài sản đã thu hồi đầy đủ nên thiệt hại không lớn; gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo và đang gặp khó khăn; bị cáo phải trực tiếp nuôi dưỡng mẹ già đang bị bệnh tai biến và bệnh tim. Đề nghị xử đầu mức đề nghị là phù hợp.

- Bị hại: vắng mặt tại phiên tòa, không có lời trình bày.

- Lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo trình bày là đã biết lỗi, rất hối hận về hành vi của bản thân gây ra, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện An Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị hại đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Xét thấy đã có lời khai và không có yêu cầu nên việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt họ.

Lời khai nhận của bị cáo K-bc tại phiên tòa phù hợp với những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, từ đó có đủ căn cứ để xác định: Vào khoảng 02 giờ ngày 02 tháng 11 năm 2019, Nguyễn Văn K-bc đột nhập vào nhà anh Huỳnh Thanh K-bh, thuộc kp 3, T 11, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang lấy trộm 01 cái ví da, bên trong có số tiền Việt Nam là 3.182.000 đồng; 05 tờ ngoại tệ gồm: 01 tờ tiền Hoa Kỳ mệnh giá 01 đô la, 01 tờ tiền Singapore mệnh giá 02 đô la, 01 tờ tiền Trung Quốc mệnh giá 10 yuan, 01 tờ tiền Campuchia mệnh giá

HSST số: 08/2020-4

100 riel và 01 tờ tiền Hàn Quốc mệnh giá 1000 won, tổng giá trị của 05 tờ ngoại tệ là 284.795 đồng và một số giấy tờ tùy thân của anh Huỳnh Thanh K-bh. Tổng số tài sản mà Nguyễn Văn K-bc đã lấy trộm của anh Huỳnh Thanh K-bh có giá trị là 3.581.795 đồng

Như vậy, nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác, bị cáo đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu để lén lút chiếm đoạt tài sản của họ; khi chiếm đoạt tài sản bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị còn lại tại thời điểm bị lấy trộm là 3.581.795 đồng. Vì vậy, Viện kiểm sát truy tố bị cáo phạm tội trộm cắp tài sản theo quy định khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của bị hại, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, gây bất bình trong nhân dân nên cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất và mức độ phạm tội mà bị cáo đã thực hiện để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt. Đồng thời cũng nhằm để răn đe, cảnh tỉnh chung đối với mọi người có ý thức tuân thủ pháp luật và tôn trọng tài sản hợp pháp của người khác. Khi quyết định hình phạt cũng cần thấy rằng, bị cáo không có tình tiết tăng nặng; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải; bị cáo nhất thời phạm tội, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; cha ruột bị cáo là người có công, được Nhà nước tặng huân chương; tài sản đã được bị cáo giao nộp đầy đủ nên thu hồi kịp thời, hậu quả thiệt hại không lớn. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Qua phân tích, thấy bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo thuộc hộ nghèo và đang phải trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc mẹ già bị bệnh nên không cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà nên giao về cho địa phương quản lý giáo dục như đề nghị của Kiểm sát viên và ý kiến của người bào chữa là phù hợp với hành vi, tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo. HĐXX thống nhất áp dụng Điều 36 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo bằng hình phạt cải tạo không giam giữ; miễn khấu trừ thu nhập trong giai đoạn thi hành án do bị cáo là cá nhân thuộc hộ nghèo.

HSST số: 08/2020-5

Về vật chứng và trách nhiệm dân sự, Cơ quan điều tra đã giao trả lại tài sản cho bị hại anh K-bh và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét đến.

Về án phí, bị cáo là cá nhân thuộc hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí nên được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1- Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn K-bc phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 và Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K-bc 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị K-bh án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo K-bc cho Ủy ban nhân dân thị trấn Thứ 11, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành án.

Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo trong giai đoạn thi hành án.

2- Về trách nhiệm dân sự, bị hại không yêu cầu nên không xem xét.

3- Về án phí, căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo K-bc được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4 - Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 07-5-2020). Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ