- Tranh chấp gì? án hình sự — "LÂM VĂN CHÚC - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1].Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lâm Văn C, sửa bản án sơ thẩm giữ nguyên mức hình phạt tù và cho bị cáo Lâm Văn C hưởng án treo.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2020/HS-PT Ngày: 20/01/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Dung.
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Hải Vinh.
Ông Nguyễn Gia Lương.
- T ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Yến Ngọc - T ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà:ông Hoàng Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 20/01/2020 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 286/TLPT-HS ngày 05 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo Lâm Văn C do có kháng cáo của bị cáo Lâm Văn C đối với bản án hình sự sơ thẩm số 77/2019/HSST ngày 29/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Lâm Văn C- Tên gọi khác: Không - Giới tính: Nam; Sinh năm: 1963, tại huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nơi ĐKHKTT: Thôn R, xã S, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Chỗ ở: Thôn R, xã S, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Sán Chí; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Họ và tên bố: Lâm Văn C (đã chết); Họ và tên mẹ: Lý Thị E (đã chết); Vợ: Ban Thị Đ - sinh năm 1969; Con: Có 3 con, lớn sinh năm 1991, nhỏ sinh năm 1994; Anh chị, em ruột: Có 04anh chị em ruột, bị cáo là thứ 2; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáobị bắt tạm giam từ ngày 19/7/2019 đến ngày 26/9/2019 được thay thế biện bằng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú hiện bị cáo đang tại ngoại. Có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Thân Văn L, trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Bắc Giang. Có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng nhưng do không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị nên cấp phúc thẩm không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 1999, ông Hoàng Văn S - sinh năm 1944, trú tại Thôn R, xã S, huyện L, tỉnh Bắc Giang được Uỷ ban nhân dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 12.000 m2 tại lô số 07 thuộc khu vực Hạc Ấy thuộc Thôn R, xã S, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông S đã giao cho con trai là anh Hoàng Văn T - sinh năm 1975, trú tại Thôn R, xã S, huyện L, tỉnh Bắc Giang sử dụng canh tác trồng cây trên đất gồm cây Vải, cây Thông, Bưởi diễn, Nhãn. Trong quá trình anh T canh tác sử dụng mảnh đất trên thì Lâm Văn C - sinh năm 1963, trú tại Thôn R, xã S, huyện L, tỉnh Bắc Giang cho rằng diện tích đất nêu trên là của gia đình C, Ủy ban nhân dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông S là không đúng. Lý do trước khi gia đình ông S được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng diện tích đất trên thì C đã canh tác ở đó, nên diện tích đất trên là của gia đình C. C cho rằng vì C không biết chữ nên cần phải chặt số cây gia đình anh T đang trồng trên diện tích đất trên thì chính quyền mới vào giải quyết vụ việc cho gia đình mình.
Thực hiện ý định trên, khoảng 08 giờ ngày 11/4/2019 Lâm Văn C cầm theo 01 con dao liềm phát có cán bằng gỗ, tổng chiều dài 65,5cm đi từ nhà đến vườn trồng cây trên diện tích đất của gia đình anh T. Đến nơi, C dùng dao liềm phát chặt cây nhãn, cây bưởi, cây vải, cây thông và dùng tay nhổ một số cây bưởi khác trên đất. C chặt được khoảng 30 phút thì có anh Lâm Văn P - sinh năm 1991, trú tại Thôn R, xã S, huyện L, tỉnh Bắc Giang đến làm vườn nhà anh P giáp ranh với vườn nhà anh Hoàng Văn T, thấy Lâm Văn C đang chặt cây nên anh P có gọi C sang vườn nhà anh P uống nước. Lâm Văn C đi sang vườn nhà anh P ngồi uống nước hút thuốc lá xong thì quay lại vườn nhà anh T tiếp tục chặt cây trong vườn. Khi C đang chặt cây thì anh Hoàng Văn T cùng vợ là chị Ma Thị T - sinh năm 1979 đi đến, anh T có nói với C là “không được chặt cây”, thì C nói lại “Vườn nhà tao, tao cứ chặt”.
Do lúc này C đang cầm dao trên tay nên anh T sợ không dám lại gần mà chạy đi gọi người nhà của C đến can ngăn. Khoảng 09 giờ cùng ngày anh Lâm Văn D - sinh năm 1986, trú tại Thôn R, xã S, huyện L, tỉnh Bắc Giang là cháu của C được người dân đi làm đồng ở gần vườn nhà anh T thông báo cho biết việc Lâm Văn C đang chặt cây của anh T nên anh D đã đến khuyên can, rồi đưa C về nhà. Sau khi sự việc xảy ra anh Hoàng Văn T đã làm đơn trình báo Công an xã S giải quyết, Công an xã Xa lý đã báo cáo công an huyện L giải quyết theo thẩm quyền.
Cùng ngày, Lâm Văn C giao nộp cho Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện L con dao liềm phát có cán bằng gỗ, tổng chiều dài 65,5 cm, phần lưỡi dao rộng nhất 4 cm, phần cán gỗ rộng nhất 3,5 cm, khi thu giữ đã tiến hành niêm phong theo quy định.
Hồi 12 giờ ngày 11/4/2019 cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện L đã tổ chức khám nghiệm hiện trường, xác định như sau: Hiện trường xảy ra vụ việc tại đồi trồng cây của gia đình anh Hoàng Văn T, mảnh đất này được Uỷ ban nhân dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Hoàng Văn S, ông Hoàng Văn S đã giao lại cho con trai là anh Hoàng Văn T trồng cây. Diện tích 12.000m2 trồng cây Thông, cây Nhãn, cây Bưởi diễn, cây Vải thiều. Các cây bị chặt, nhổ bật gốc gồm:
+ 13 cây nhãn trồng từ năm 2017 bị chặt đứt kích Tớc cao 40 cm, đường kính cây 1,5 cm;
+ 09 cây Vải thiều trồng từ năm 2017 bị chặt đứt (trong đó có 5 cây to kích Tớc cao 90 cm, tán cây rộng 60 cm, đường kính gốc 2 cm; 04 cây nhỏ kích Tớc cao 45 cm, tán cây rộng 20 cm, đường kính gốc 1 cm);
+ 11 cây bưởi diễn trồng từ tháng 01/2019 bị chặt đứt và bị nhổ (trong đó 4 cây to kích Tớc cao 105 cm, đường kính cây 1 cm; 7 cây nhỏ kích Tớc cao 60 cm, đường kính cây 0,5 cm).
+ 348 cây Thông được trồng năm 2016 bị chặt đứt rời (gồm 157 cây to kích Tớc cao 200 cm, tán rộng 130 cm, đường kính gốc 4 cm; 191 cây nhỏ nhất kích Tớc cao 100 cm, tán cây rộng 60 cm, đường kính gốc 2,5 cm.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 77/KL-HĐ ngày 03/5/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: 348 cây thông trị giá 5.916.000 đồng, 13 cây nhãn trị giá 745.000 đồng, 04 cây Bưởi trị giá 110.000 đồng, 07 cây Bưởi trị giá 84.700 đồng, 05 cây Vải trị giá 350.000 đồng. Tổng giá trị tài sản ở thời điểm bị hủy hoại là 7.454.700 đồng.
Quá trình điều tra vụ án xác định các năm 2010, 2012-2013, Lâm Văn C có biểu hiện bệnh tâm thần phải đi điều trị tại Bệnh viện tâm thần tỉnh Bắc Giang. Ngày 20/7/2019 cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện L ra quyết định trưng cầu giám định tâm thân pháp y đối với Lâm Văn C. Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 64/2019/PYTT ngày 22/8/2019 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền núi phía bắc kết luận:
+ Lâm Văn C bị mắc bệnh Rối loạn loạn thần do rượu giai đoạn ổn định;
+ Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội ngày 11/4/2019 Lâm Văn C bị bệnh rối loạn thần do rượu giai đoạn ổn định, đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi.
+ Hiện tại Lâm Văn C đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra vụ án gia đình Lâm Văn C đã bồi Tờng cho gia đình anh Hoàng Văn T, chị Ma Thị T số tiền 30.000.000 đồng, anh Hoàng Văn T đã đủ nhận tiền, không yêu cầu bị cáo phải bồi Tờng gì thêm.
Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 con dao liềm phát được niêm phong chuyển đến kho vật chứng Chi cục Thi hành dân sự huyện L để giải quyết theo vụ án.
Lời khai nhận của bị cáo Lâm Văn C phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu có trong hồ sơ.
Tại bản cáo trạng số: 83/CT-VKS-HS ngày 27 tháng 9 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện L đã truy tố bị cáo Lâm Văn C về tội “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.
Với nội dung trên bản án hình sự sơ thẩm số 77/2019/HSST ngày 29/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang đã xét xử và quyết định:
Căn cứ kho¶n 1 §iÒu 178; Điều 47,điểmb, i, m kho¶n 1, khoản 2 §iÒu 51; §iÒu 38 Bé luËt h×nh sù; khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Tờng vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.Xử:
1. Tuyªn bè bÞ c¸o Lâm Văn C ph¹m téi “Hủy hoại tài sản”. Xö ph¹t bị cáo Lâm Văn C01 năm 03thángtï, thêi h¹n tï tÝnh tõ ngµybắt bị cáo đithi hành án,được trừ thời gian tạm giam từ 19/7/2019 đến 26 tháng 9 năm 2019.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, về án phí và quyền kháng cáo
Sau khi cấp sơ thẩm xét xử xong, ngày 05/11/2019, bị cáo Lâm Văn C có đơn kháng cáo với nội dung: xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo C trình bày lý do kháng cáo như sau: Bị cáo thấy việc làm của mình là sai, vi phạm pháp luật. Hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bản thân bị cáo phạm tội do lạc hậu, thiếu hiểu biết, gia đình bị hạ đã có đơn xin cho bị cáo được hưởng án treo, bị cáo cáo nhân thân tốt. Đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà có quan điểm: Sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, xem xét các vấn đề kháng cáo mà bị cáo nêu ra đã kết luận và đề nghị HĐXXchấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Lâm Văn C, giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho các bị cáo Công được hưởng án treo.
Ông Thân Văn L, trợ giúp viên pháp lý trình bày quan điểm bào chữa cho bị cáo C: Nhất trí quan điểm của Viện kiểm sát. Bị cáo được hưởng rất nhiều tình tiết giảm nhẹ, hậu quả xảy ra không nghiêm trọng, bị cáo sức khỏe yếu nên đề nghị HĐXX xem xét xho bị cáo được hưởng án treo.
Bị cáo Lâm Văn C không tranh luận gì với quan điểm của Viện kiểm sát và của ông Lợi.
Bị cáo Lâm Văn C nói lời sau cùng: đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Lâm Văn C nộp theo đúng các quy định của pháp luật nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp cần được chấp nhận để xem xét.
Qua quá trình xét hỏi tại phiên tòa, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thấy đủ cơ sở xác định:
Khoảng 08 giờ ngày 11/4/2019 tại vườn nhà ông Hoàng Văn T tại khu vực Hạc Ấy thuộc Thôn R, xã S, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Lâm Văn C đã có hành vi dùng dao liềm phát chặt và dùng tay nhổ13 cây nhãn,09 cây Vải thiều; 348 cây Thông và 11 cây bưởi diễn của gia đình anh Hoàng Văn T, tổng trị giá thiệt hại là 7.454.700 đồng. Do vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Hủy hoại tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.
Từ những nội dung trên án sơ thẩm xét xử bị cáo Lâm Văn C về tội “Hủy hoại tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.
Xét kháng cáo của bị cáo Lâm Văn C thì thấy: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Do vậy cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lâm Văn C không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo và gia đình đã tự nguyện bồi Tờng thiệt hại cho người bị hại; Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo, bị cáo là người không biết chữ, sinh sống tại vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, m khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình và ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 HĐXX phúc thẩm cần áp dụng cho bị cáo C.
Bị cáo Lâm Văn C được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, m, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, bị cáo xuất thân từ thành phần nhân dân lao động, có nơi cư trú ổn định, thành phần con em người dân lao động, là người dân tộc (Sán Chí) thiểu số trình độ văn hoá còn có phần nào hạn chế, hành vi phạm tội đối với bị cáo ít nghiêm trọng. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết buộc phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà cho cải tạo tại địa phương có thời gian thử thách cũng đủ giáo dục bị cáo trở thành con người tốt. Bị cáo có đủ điều kiện hưởng án treo theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Căn cứ phân tích trên Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lâm Văn C, giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo để phù hợp với các quy định của pháp luật và tương xứng tính chất mức độ hành vi phạm tội.
Về án phí hình sự phúc thẩm:Do được chấp nhận kháng cáo nên bị cáo Lâm Văn Công không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Tờng vụ Quốc hội.
Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1].Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lâm Văn C, sửa bản án sơ thẩm giữ nguyên mức hình phạt tù và cho bị cáo Lâm Văn C hưởng án treo.
Căn cứ kho¶n 1 §iÒu 178; Điều 47,điểm b, i, m kho¶n 1, khoản 2 §iÒu 51;§iÒu 65Bé luËt h×nh sù; khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Xö ph¹t bị cáo Lâm Văn C 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản” nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Lâm Văn C cho UBND xã S, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
[2]. Án phí hình sự phúc thẩm:
Áp dụngđiểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Tờng vụ Quốc hộiqui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Lâm Văn Ckhông phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bắc Giang; - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang; - Cổng thông tin điện tử Tòa án; - CA, VKS, TA huyện L; - Chi cục THADS huyện L; - Bị cáo; - Lưu HS, HCTP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) ` Nguyễn Thị Kim Dung |