vanban.org

Bản án 08/2020/HNST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!!!!!!!!!!!!!!!!!!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
HUYỆN!HỚN!QUẢN!
TỈNH!BÌNH!PHƯỚC
Bản án số: 08/2020/HNST
Ngày:07-02/2020

V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

!

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!HỚN!QUẢN,!TỈNH!BÌNH!PHƯỚC!

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Văn Thanh

Các hội thẩm nhân dân: 1 Ông Bùi Văn Hồng

2.Bà Trương Thị Ngọc Linh!

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Đỗ Đình Thuyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 404/2019/TLST- HNGĐ ngày 27/9/2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2019/QĐST-HNGĐ ngày 25/12/2019, quyết định hoãn phiên tòa số 04/2020/QD9ST – HPT ngày 15/01/2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Trang A, sinh năm 1995

Địa chỉ: 266/40/37/12 T, phường 8, Quận 4, thành phố H.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Trần Duy K, sinh năm 1993

Địa chỉ: tổ 5, khu phố 5, thị trấn T, huyện H, tỉnh B.

(Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do)

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN!

-Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Trang A trình bày:!!

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Trang A và anh Nguyễn Trần Duy K có tự nguyện tìm hiểu và chung sống cùng nhau vào năm 2016, vợ chồng có đăng ký kết hôn Ủy ban nhân dân xã Tân Khai (nay là thị trấn Tân Khai), huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Khang không quan tâm đến vợ con và gia đình, thường xuyên mượn nợ để đi chơi, chị Trang Acó góp ý nhưng anh Khang vẫn không thay đổi dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống căng thẳng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Nguyễn Thị Trang A yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Trần Duy K.

Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Trà M, sinh ngày 26/8/2018. Khi ly hôn chị Trang Ayêu cầu được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu anh Khang cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với bị đơn Nguyễn Trần Duy K: Sau khi tòa án thụ lý đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp về việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Nguyễn Trần Duy K không có ý kiến, cũng không đến Tòa án theo giấy triệu tập nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh Nguyễn Trần Duy K.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản tham gia phiên tòa phát biểu:

Về tố tụng: Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về việc thu thập chứng cứ, giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử mở phiên toà. Tại phiên toà hôm nay, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, thành phần các đương sự tham gia vụ án và phiên tòa đúng quy định.

Kiến nghị: Không có.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Nguyễn Thị Trang A được ly hôn với anh Nguyễn Trần Duy K; Giao con chung Nguyễn Ngọc Trà M, sinh ngày 26/8/2018 cho chị Nguyễn Thị Trang A trực tiếp nuôi dưỡng, anh Khang không cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không xem xét.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN!

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về!tố!tụng:

Trong vụ án này, chị Nguyễn Thị Trang A khởi kiện yêu cầu Tòa án cho ly hôn với anh Nguyễn Trần Duy K hiện cư trú tại thị trấn Tân Khai, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước. Căn cứ theo khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là vụ án ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.

Chị Nguyễn Thị Trang A và anh Nguyễn Trần Duy K vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên chị Trang Acó đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử vụ án theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, anh Duy Khang đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục đưa vụ án ra xét xử.

Về!nội!dung!vụ!án:!

Về quan hệ hôn nhân: Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn Thị Trang A xác nhận sau thời gian tự nguyện tìm hiểu vợ chồng chung sống cùng nhau vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Khai (thị trấn Tân Khai), huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước; vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Khang không quan tâm đến vợ con và gia đình, thường xuyên mượn nợ để đi chơi, chị Trang có góp ý nhưng anh Khang vẫn không thay đổi dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc. Do tình cảm vợ chồng không còn nên chị Trang Ayêu cầu được ly hôn với anh Duy Khang.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh Duy Khang lên để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị Trang Anhưng anh Duy Khang đều vắng mặt, do đó Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh Duy Khang.

Hội đồng xét xử nhận thấy: Trong quá trình chung sống, vợ chồng chị Trang Avà anh Duy Khang có phát sinh nhiều mâu thuẫn về vấn đề tài chính, anh Khang không có trách nhiệm với gia đình. Tòa án có tiến hành triệu tập anh Khang đến Tòa án để hòa giải nhưng anh Duy Khang đều vắng mặt, không thể hiện ý kiến của mình và cũng không thể hiện được ý chí muốn đoàn tụ với chị Trang Anh. Hiện vợ chồng đã không còn chung sống cùng nhau được khoảng 01 năm, việc đoàn tụ giữa chị Trang Avà anh Duy Khang không còn ý nghĩa, do đó cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trang Anh.

Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Trà M, sinh ngày 26/8/2018. Trong quá trình giải quyết vụ án chị Trang Ayêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu M và không yêu cầu anh Duy Khang cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay, cháu M đang sinh sống cùng chị Trang Anh, anh Khang cũng không thể hiện nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu M, do đó để ổn định cuộc sống của cháu, không ảnh hưởng đến việc học hành và sinh hoạt hàng ngày thì cần thiết giao cháu M cho chị Trang Atrực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của chị Trang Avề việc không yêu cầu anh Duy Khang cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Trang A phải chịu số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Về ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Nguyễn Thị Trang A được ly hôn với anh Nguyễn Trần Duy K, giao con chung Nguyễn Ngọc Trà M cho chị Nguyễn Thị Trang A trực tiếp nuôi dưỡng, anh Duy Khang không cấp dưỡng nuôi con là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ nêu trên;

!

QUYẾT!ĐỊNH:!

Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng các Điều 51, 56, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Trang A.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Trang A được ly hôn với anh Nguyễn Trần Duy K.

Giấy chứng nhận kết hôn số 139 ngày12/12/2016 của Ủy ban nhân dân xã Tân Khai (nay là thị trấn Tân Khai), huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước không còn giá trị pháp lý.

-!Về con chung: Giao con chung Nguyễn Ngọc Trà M, sinh ngày 26/8/2018 cho chị Nguyễn Thị Trang A trực tiếp nuôi dưỡng.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị Nguyễn Thị Trang A không yêu cầu anh Nguyễn Trần Duy K cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Trang A phải chịu số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001589 ngày 25/9/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.

- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt bản án hợp lệ theo quy định.

Cỡ chữ