- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NĐ chị Loan - BĐ anh Vọng"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hà Thị Tố L được ly hôn anh Triệu Văn V.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẬP TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:08/2020/HNGĐ-ST Ngày 13/3/2020 V/v Tranh chấp về Hôn nhân và gia đình. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẬP - TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Xuân Trường
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Xuân Trường
- Ông Thẩm Văn Minh
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Trung Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lập tham gia phiên tòa: Ông Triệu Xuân Trường - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 263/2019/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2019 về việc Tranh chấp về Hôn nhân và gia đình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 01 năm 2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hà Thị Tố L , sinh năm 1995. Có mặt.
Địa chỉ: Khu Đo xã Thượng Long, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ.
- Bị đơn: Anh Triệu Văn V, sinh năm 1993.
Địa chỉ: Khu Đo xã Thượng Long, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ - Vắng mặt (Đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo tại Tòa án của nguyên đơn chị Hà Thị Tố L trình bày: Chị và anh Triệu Văn V kết hôn tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thượng Long ngày 05 tháng 01 năm 2018, sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không tôn trọng yêu thương nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh V để ổn định cuộc sống.
Do anh V không đến Tòa án, khi Tòa án phối hợp với chính quyền địa phương và gia đình để tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của Pháp luật và yêu cầu anh V làm bản tự khai, tham gia phiên họp, phiên hòa giải để trình bày quan điểm về việc chị L xin ly hôn nhưng anh V không hợp tác.
Tòa án đã tiến hành lấy lời khai của người thân trong gia đình anh V, xác định được anh V vẫn nhận được giấy báo và các văn bản tố tụng của Tòa án, Uỷ ban nhân dân xã Thượng Long xác định đã giao giấy báo của Tòa án cho gia đình anh V, gia đình anh V cam kết sẽ báo cho anh V biết nhưng anh V không đến Tòa án làm việc.
Về con chung: Chị L trình bày vợ chồng chưa có con chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ, công sức: Chị L không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa nguyên đơn có mặt vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày nêu trên.
Quá trình Tòa án giải quyết cũng như tại phiên tòa hôm nay anh V cố tình vắng mặt, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng anh V không chấp hành nên Tòa án không tiến hành hòa giải theo quy định của pháp luật đối với các đương sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của người tiến hành tố tụng, từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, đều thực hiện đúng quy định của Pháp luật; Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng, đối với nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Pháp luật, bị đơn không đến Tòa án và không hợp tác để Tòa án giải quyết vụ án cũng như không có mặt tại phiên tòa hôm nay là do bị đơn tự khước từ quyền lợi và đã được Tòa án tống đạt hợp lệ theo quy định. Kiểm sát viên có quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: Xử cho chị L được ly hôn anh V; Về con chung, về tài sản chung, công nợ, công sức đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét; Chị L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét, đánh giá đầy đủ và toàn diện chứng cứ, ý kiến kiểm sát viên; Hội đồng xét xử nhận định.
Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh V tự nguyện kết hôn năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thượng Long, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ; như vậy chị L và anh V kết hôn đảm bảo các quy định về điều kiện kết hôn và không thuộc trường hợp cấm kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, chị L và anh V chung sống hòa thuận hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không tôn trọng thương yêu nhau, vợ chồng đã sống ly thân không quan tâm đến nhau; Nay chị L xin ly hôn, anh V không hợp tác để làm việc; Qua xác minh tại địa phương và gia đình anh V thì thấy tình trạng hôn nhân của vợ chồng chị L và anh V như chị Loan trình bày là đúng, chứng tỏ tình cảm vợ chồng giữa chị L và anh V không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài; Kiểm sát viên tại phiên tòa cũng đề nghị Hội đồng xét xử cho chị L được ly hôn anh V, nên cần xử cho chị L được ly hôn anh V là phù hợp với thực tế tình cảm vợ chồng và phù hợp với quy định của pháp luật.
Anh V cố tình vắng mặt không đến Tòa án để giải quyết việc chị L xin ly hôn mặc dù Tòa án đã báo cho anh V và gia đình anh V; Như vậy anh V đã từ chối quyền lợi của bản thân, cố tình lẩn tránh gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án, nên vụ án phải được giải quyết vắng mặt anh Vọng theo quy định của pháp luật.
Về con chung:
Xét thấy: Việc chị L trình bày anh chị chưa có con chung và không đề nghị Tòa án giải quyết là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không xem xét. Anh V vắng mặt không có quan điểm đề nghị, nếu sau này đương sự có yêu cầu sẽ được xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung, công nợ, công sức: Chị L không đề nghị Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Anh V vắng mặt không có quan điểm đề nghị, nếu sau này đương sự có yêu cầu thì xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật
Về án phí: Chị Hà Thị Tố L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 điều 51; Khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hà Thị Tố L được ly hôn anh Triệu Văn V.
2. Về án phí: Chị Hà Thị Tố L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001246 ngày 11 tháng 12 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ. Chị L đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, chị Hà Thị Tố L có mặt được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm, anh Triệu Văn V vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Yên Lập; - Chi cục THADS huyện Yên Lập; - UBND xã Thượng Long, H Yên lập; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Bùi Xuân Trường |