- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Võ Thị Mỹ Tiên - Huỳnh Văn Mẩn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Võ Thị Mỹ T được ly hôn với anh Huỳnh Văn M.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 17 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HƯNG TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2020/HNGĐ-ST Ngày: 28-8-2020 V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HƯNG, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Huỳnh Thị Cẩm Nhung.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thanh Hải.
2. Ông Phạm Ngọc Chánh.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diểm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hưng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Hưng tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 21/2020/TLST-HNGĐ ngày 17/02/2020 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 23/7/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 05/2020/QĐST- HNGĐ ngày 11 tháng 8 năm 2020, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Võ Thị Mỹ T, sinh năm: 1996; (có mặt)
Địa chỉ: Ấp N, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
2. Bị đơn: Anh Huỳnh Văn M, sinh năm 1990; (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp 4, xã T, huyện T, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị Võ Thị Mỹ T trình bày: Chị và anh Huỳnh Văn M quen biết và tìm hiểu thời gian một năm thì tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Long An vào ngày 16/5/2017. Quá trình chung sống, vợ chồng chị có 01 con chung Huỳnh Ngọc Bảo N, sinh ngày 11/10/2017. Thời gian đầu vợ chồng sống chung rất hạnh phúc, thời gian sau này giữa chị và anh M thường phát sinh mâu thuẫn, bất đồng ý kiến dẫn đến gây gổ với nhau, vợ chồng không còn hạnh phúc nữa, chị và anh M đã sống ly thân từ ngày 18/12/2019 cho đến nay, trong thời gian sống ly thân chị trực tiếp nuôi con chung. Chị nhận thấy mâu thuẫn gia đình trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài.
Tại phiên tòa, chị Võ Thị Mỹ T yêu cầu được ly hôn với anh Huỳnh Văn M; Về con chung: chị T yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung Huỳnh Ngọc Bảo N, sinh ngày 11/10/2017; Về cấp dưỡng: chị không yêu cầu giải quyết; Về tài sản: không yêu cầu giải quyết; Về nợ chung: không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn anh Huỳnh Văn M: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án thông báo thụ lý vụ án và làm các thủ tục tố tụng (như tống đạt thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập đượng sự, giấy báo phiên hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy báo phiên tòa, quyết định hoãn phiên tòa) theo quy định của pháp luật cho anh Huỳnh Văn M, anh M nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vẫn không đến để trình bày ý kiến cũng như vắng mặt tại phiên tòa hôm nay.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu:
Về tố tụng: Tòa án đã thực hiện đúng theo trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự;
Về nội dung: Chị Võ Thị Mỹ T và anh Huỳnh Văn M có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên đây là hôn nhân hợp pháp. Mối quan hệ vợ chồng giữa chị T và anh M phát sinh nhiều mâu thuẩn, bất đồng không thể giải quyết được, đời sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Chị T và anh M đã sống ly thân từ tháng 12 năm 2019. Vì vậy, chị T yêu cầu ly hôn với anh M là có căn cứ chấp nhận theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Về con chung: chị T yêu cầu được nuôi con chung Huỳnh Ngọc Bảo N, sinh ngày 11/10/2017, giới tính: nữ là có cơ sở. Vì cháu N đang sống với chị T, được chăm sóc tốt nên nguyện vọng được tiếp tục nuôi con của chị T là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: chị T không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
1. Về thủ tục tố tụng:
Tòa án đã tiến hành đúng theo trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự.
Sự vắng mặt của đương sự: bị đơn anh Huỳnh Văn M đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng không đến để tham dự phiên tòa nên căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử theo quy định.
2. Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Chị Võ Thị Mỹ T và anh Huỳnh Văn M tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Long An vào ngày 16/5/2017. Đây là hôn nhân đúng pháp luật. Trong thời gian chung sống vợ chồng chị Võ Thị Mỹ T và anh Huỳnh Văn M phát sinh mâu thuẫn nên tình cảm vợ chồng giữa chị T và anh M có nhiều mâu thuẫn, bất đồng không thể giải quyết được, đời sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Chị T và anh M đã sống ly thân từ tháng 12 năm 2019 đến nay. Cuộc sống vợ chồng giữa chị T và anh M mâu thuẫn đã trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chị Võ Thị Mỹ T yêu cầu được ly hôn với anh Huỳnh Văn M là có căn cứ chấp nhận theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó, chấp nhận theo yêu cầu của chị T được ly hôn với anh M.
Về con chung: Chị Võ Thị Mỹ T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung Huỳnh Ngọc Bảo N, sinh ngày 11/10/2017. Xét thấy, chị T đang nuôi dưỡng và chăm sóc cháu N, cháu N được chăm sóc tốt nên giao cháu N cho chị T nuôi dưỡng là phù hợp với khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình. Do đó, chị T được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung Huỳnh Ngọc Bảo N, sinh ngày 11/10/2017, giới tính: nữ.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu giải quyết nên không đề cập đến.
Về tài sản và nợ chung: không yêu cầu giải quyết nên không đề cập đến.
Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận theo yêu cầu của chị Tiên là có căn cứ.
Về án phí: Chị T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí Hôn nhân sơ thẩm. Anh M không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 9, 17, 51, 56, 81, 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chị Võ Thị Mỹ T được ly hôn với anh Huỳnh Văn M.
2. Về con chung: Chị Võ Thị Mỹ T được quyền tiếp tục nuôi dưỡng và chăm sóc con chung Huỳnh Ngọc Bảo N, sinh ngày 11/10/2017, giới tính: nữ.
Bên không nuôi con được quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở;
Vì lợi ích của con, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
3. Về cấp dưỡng: Không yêu cầu giải quyết nên không đề cập đến.
4. Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không đề cập đến.
5. Về án phí: Chị Võ Thị Mỹ T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí Hôn nhân sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0008129 ngày 17/02/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Long An. Chị Võ Thị Mỹ T đã nộp đủ tiền án phí Hôn nhân sơ thẩm.
Anh Huỳnh Văn M không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh/H; - CQ THA DS; - Các Đ/s; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Huỳnh Thị Cẩm Nhung |