- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về tình cảm: Ghi nhận sự tự nguyện ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Chiu và anh Nguyễn Văn Tính.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| Toà án nhân dân huyện sóc sơn T.P hà nội ––––––––––– Bản án số: 08/2020/HNGĐ-ST Ngày: 10/03/2020 “V/v: tranh chấp ly hôn và con |
chung”
nhân danh
Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam
Toà án nhân dân huyện sóc sơn - Thành phố Hà Nội
thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn N N;
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đăng H;
Bà Nguyễn Bích L
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị H – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội;
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Lê Thị T – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 57/2020/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2020 về việc “tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2020/QĐXXST- HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2020 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Chiu, sinh 1991; Nơi ĐKHKTT: thôn Xuân Đồng, xã Tân Minh, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.
Chỗ ở hiện nay: thôn Lương Phúc, xã Việt Long, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Có mặt.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Tính, sinh 1989; Nơi cư trú: thôn Xuân Đồng, xã Tân Minh, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Có mặt.
Nội dung vụ án
Theo đơn khởi kiện ngày 13/01/2020 và các tài liệu kèm theo đơn khởi kiện, lời khai tiếp theo nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Chiu trình bày:
Chị kết hôn với anh Nguyễn Văn Tính trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại trụ sở UBND xã Tân Minh, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội vào ngày 02/01/2009. Trước khi kết hôn hai vợ chồng có thời gian tìm hiểu và yêu thương nhau một thời gian dài, được sự đồng ý của cả hai bên gia đình, anh chị đã tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng sống chung cùng mẹ chồng nhưng ăn riêng. Qúa trình chung sống vợ chồng không có hạnh phúc, thường xuyên nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau, anh Tính thường xuyên bỏ ra ngoài chơi bời, ngoại tình, không quan tâm chăm sóc vợ con, khi chị khuyên can anh Tính thì vợ chồng lại xảy ra cãi cọ lẫn nhau và nhiều lần anh Tính đánh đập chị. Đến khoảng đầu năm 2015, chị không chịu đựng được vì áp lực cuộc sống gia đình quá căng thẳng nên chị đã tự ý bỏ về nhà ngoại sinh sống. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2015 cho đến nay, quá trình sống ly thân hai bên chỉ đi lại thăm nom con chung,về mặt tình cảm vợ chồng không còn quan hệ gì với nhau nữa. Hai bên gia đình cũng tìm nhiều biện pháp hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không được. Nay chị xác nhận mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng, không thể hàn gắn được nữa nên chị đề nghị được ly hôn với anh Tính để hai bên ổn định cuộc sống.
Về con chung: Qúa trình chung sống vợ chồng có hai con chung là Nguyễn Thanh Lâm, sinh ngày 21/01/2009 và Nguyễn Thị Huyền Diệu, sinh ngày 07/5/2014. Hiện tại hai con chung đều rất khỏe mạnh và đang ở chung cùng với bố. Năm 2015, chị bỏ về nhà ngoại chung sống chị có đưa cháu Huyền Diệu về ở cùng, đến khoảng tháng 10 năm 2019 chị đưa cháu Huyền Diệu về ở cùng bố để cháu Huyền Diệu được cùng anh trai học tập nhưng sau đó chị về đón cháu thì gia đình anh Tính ngăn cản không cho chị đón con. Đến nay, ly hôn chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Huyền Diệu và nhất trí để cháu Thanh Lâm cho anh Tính tiếp tục nuôi dưỡng, tự các bên đảm nhiệm việc nuôi con, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện tại chị làm nghề kinh tự do với mức thu nhập hàng tháng khoảng 15 triệu đồng.
Về tài sản chung, nhà ở, đất ở, đất sản xuất nông nghiệp, công sức đóng góp, công nợ: Chị không đề nghị Toà án giải quyết.
Bị đơn là anh Nguyễn Văn Tính trình bày:
Anh đồng ý với phần trình bày của chị Chiu về thời gian, điều kiện đăng ký kết hôn như chị Chiu trình bày là đúng. Về nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau, chị Chiu không quan tâm chăm sóc cho gia đình nhà chồng, ghen tuông vô cớ, thường xuyên cãi láo với chồng và mẹ chồng. Nay thời gian ly thân đã lâu, anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nhất trí xin được ly hôn với chị Chiu.
Về con chung: Qúa trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là: Nguyễn Thanh Lâm, sinh ngày 21/01/2009 và Nguyễn Thị Huyền Diệu, sinh ngày 07/5/2014. Hiện cả hai con chung đều đang ở cùng với anh, đời sống, sức khỏe và học tập vẫn được đảm bảo, ly hôn anh đề nghị được nuôi cả hai con chung, không đồng ý với yêu cầu nuôi con của chị Chiu; về việc cấp dưỡng nuôi con chung: anh không yêu cầu Tòa án giải quyết, hiện tại anh làm nghề mộc có mở xưởng tại nhà, mức thu nhập hàng tháng khoảng 15 triệu đồng.
Qúa trình giải quyết vụ án, Tòa án nhận được đơn trình bày của bà Nguyễn Thị Xuân là mẹ đẻ của chị Chiu có nội dung: Bà là mẹ đẻ của chị Chiu, chị Chiu và anh Tính kết hôn với nhau được 10 năm và có hai con chung. Trong thời gian chung sống chị Chiu và anh Tính nảy sinh nhiều mâu thuẫn, chị Chiu đã về ở cùng gia đình bà từ năm 2015 đến nay. Nay chị Chiu xin ly hôn bà đồng ý với ý kiến của chị Chiu và mong Tòa án giao con chung là cháu Huyền Diệu cho chị Chiu trực tiếp nuôi dưỡng, vì cháu Huyền Diệu còn nhỏ và đã ở cùng với gia đình bà từ năm 2015 đến cuối năm 2019. Về chỗ ở sau khi ly hôn bà sẽ tạo điều kiện về chỗ ăn, ở cho chị Chiu để nuôi dạy con chung trưởng thành.
Qúa trình giải quyết vụ án, cháu Nguyễn Thanh Lâm có bản tự khai thể hiện ý kiến mong muốn được ở cùng với bố sau khi bố mẹ ly hôn.
Tại phiên tòa, chị Chiu và anh Tính không có ý kiến tranh luận.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán; Thư ký; Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, 58,71,81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình, Điều 146, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Chiu, cho chị Nguyễn Thị Chiu được ly hôn với anh Nguyễn Văn Tính.
Về con chung: Xác nhận anh chị có hai con chung là cháu Nguyễn Thanh Lâm, sinh ngày 21/01/2009 và cháu Nguyễn Thị Huyền Diệu, sinh ngày 07/5/2014; Ly hôn giao cháu Thanh Lâm cho anh Tính tiếp tục được nuôi dưỡng và giao cháu Huyền Diệu cho chị Chiu trực tiếp nuôi dưỡng; Về việc cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung, nhà ở, đất ở, đất sản xuất nông nghiệp, công sức đóng góp, công nợ: Do các đương sự không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.Về án phí: chị Chiu phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Nhận định của tòa án
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ lời trình bày của đương sự tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Anh Nguyễn Văn Tính, có hộ khẩu thường trú và hiện đang sinh sống tại thôn Xuân Đông, xã Tân Minh, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Chị Chiu xin ly hôn anh Tính, Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn thụ lý vụ án hôn nhân và gia đình là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Ngày 02/01/2009, chị Nguyễn Thị Chiu và anh Nguyễn Văn Tính đăng ký kết hôn tại UBND xã Tân Minh, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, đây là cuộc hôn nhân hợp pháp phù hợp với Luật hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, khi kết hôn do cả hai đều còn trẻ nên cuộc sống vợ chồng thường xuyên nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau, anh Tính mải chơi, không chăm sóc vợ con, chị Chiu ghen tuông vô cớ dẫn đến nhiều lần anh Tính đánh đập chị Chiu, vợ chồng sống ly thân kể từ đầu năm 2015 cho đến nay, quá trình sống ly thân vợ chồng chấm dứt mọi quan hệ tình cảm với nhau, hai bên không ai có thiện trí hàn gắn. Cho đến nay chị Chiu đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn, anh Tính đồng ý ly hôn. Qúa trình giải quyết Tòa án có xác minh tại địa phương chỗ chị Chiu và anh Tính sinh sống cung cấp và cho biết anh chị đến với nhau trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn, quá trình chung sống nảy sinh nhiều mâu thuẫn, đã có lần anh Tính đánh đập chị Chiu và tại địa phương đã tiến hành hòa giải nhiều lần. Do đó Hội đồng xét xử xác định mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ngày hôm nay chị Chiu và anh Tính đều đồng thuận ly hôn nên Tòa án chấp nhận đơn ly hôn của chị Chiu, về tình cảm ghi nhận sự tự nguyện ly hôn giữa chị Chiu và anh Tính.
[3] Về con chung: Qúa trình chung sống chị Chiu, anh Tính cũng như xác minh tại địa phương đều xác định anh chị có hai con chung là cháu Nguyễn Thanh Lâm, sinh ngày 21/01/2009 và cháu Nguyễn Thị Huyền Diệu, sinh ngày 07/5/2014. Ly hôn chị Chiu có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Huyền Diệu và giao con chung là cháu Thanh Lâm cho anh Tính trực tiếp nuôi dưỡng; anh Tính không đồng ý với yêu cầu này của chị Chiu và đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung; Về việc cấp dưỡng nuôi con chung các bên đều không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hội đồng xét xử xét thấy đối với cháu Nguyễn Thị Huyền Diệu sinh ngày 07/05/2014 đến năm 2015 chị Chiu và anh Tính ly thân, chị Chiu đưa cháu Huyền Diệu về nhà ngoại chung sống và nuôi dậy trực tiếp cho đến nay, hơn nữa cháu Huyền Diệu còn nhỏ, là con gái, để đảm bảo về điều kiện chăm sóc cho các con và xét nguyện vọng của cháu Thanh Lâm mong muốn được ở với bố nên Hội đồng xét xử giao con chung là cháu Huyền Diệu cho chị Chiu trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu Thanh Lâm cho anh Tính trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp; do các bên không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét đặt ra giải quyết.
Về tài sản chung, nhà ở, đất ở, đất sản xuất nông nghiệp, công sức đóng góp, công nợ: Do các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.
Về án phí: chị Chiu phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
Quyết định
Căn cứ khoản 1 Điều 56, 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 146, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về tình cảm: Ghi nhận sự tự nguyện ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Chiu và anh Nguyễn Văn Tính.
2. Về con chung: Xác nhận anh chị có hai con chung là cháu Nguyễn Thanh Lâm, sinh ngày 21/01/2009 và cháu Nguyễn Thị Huyền Diệu, sinh ngày 07/5/2014; Ly hôn giao con chung là cháu Nguyễn Thị Huyền Diệu cho chị Nguyễn Thị Chiu được trực tiếp nuôi dưỡng; giao con chung là cháu Nguyễn Thanh Lâm cho anh Nguyễn Văn Tính được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc có quyết định khác của Tòa án. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: hai bên không yêu cầu Tòa án đặt ra giải quyết.
Chị Chiu và anh Tính có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở anh, chị thực hiện quyền này.
3. Về tài sản chung, nhà ở, đất ở, đất sản xuất nông nghiệp, công sức đóng góp, công nợ: Hai bên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Chị Chiu phải nộp 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm chị đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn theo biên lai số 0018447 ngày 07/02/2020.
Chị Chiu, anh Tính có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND T/P Hà Nội; - VKSND huyện Sóc Sơn; - THA DS huyện Sóc Sơn; - Các đương sự; - Lưu: HS, VP; -UBND xã Tân Minh | TM. Hội đồng xét xử sơ thẩm Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà |