- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HỒ PHÚC H - HUỲNH THÚY A"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hồ Phúc H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2020/HNGĐ - ST. Ngày: 16 - 6 - 2020. V/v tranh chấp ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Hợi.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Quyết Chiến.
2. Ông Thạch Thanh Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hiệp Văn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Ngọc Bích - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 40/2020/TLST – HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2020về “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Hồ Phúc H, sinh năm 1991; địa chỉ: Ấp P, xã Tân T, huyện A, tỉnh Hậu Giang (có mặt).
2. Bị đơn: Bà Huỳnh Thúy A, sinh năm 1994; địa chỉ: Ấp 1, thị trấn N, huyện P, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Trong đơn khởi kiện lập ngày 20/02/2020 nguyên đơn ông Hồ Phúc H trình bày: Ông H và bà Huỳnh Thúy A tự nguyện kết hôn với nhau và được Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Hậu Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 07/9/2012. Sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian dài, đến năm 2014 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng ý kiến trong cuộc sống nên vợ chồng thường cải vã qua lại, từ đó cuộc sống không còn hạnh phúc và sống ly thân từ năm 2014 cho đến nay. Sau khi sống ly thân thì ông H và bà A có gặp nhau nhưng không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng. Trong thời gian chung sống, ông H và bà A không có con chung; về tài sản chung và nợ chung không có.
Tại phiên tòa, ông Hồ Phúc H yêu cầu ly hôn với bà Huỳnh Thúy A; về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có nên ông H không yêu cầu gì.
- Đối với bị đơn bà Huỳnh Thúy A: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án cho bà A nhưng bà A không có ý kiến phản đối gì. Tòa án đã triệu tập hợp lệ bà A 02 lần để tham gia tố tụng tại phiên hòa giải nhưng bà A vẫn vắng mặt nên Tòa án đã lập biên bản về việc không tiến hành hòa giải được. Bị đơn bà Huỳnh Thúy A đã được triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
- Tại phiên tòa, Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú tham gia phiên tòa trình bày ý kiến: Việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và xác định tư cách của người tham gia tố tụng trong vụ án là đúng quy định của pháp luật; việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Đối với bị đơn bà Huỳnh Thúy A chưa chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra các chứng cứ và kết quả tranh luận tại phiên tòa xét thấy tình trạng của vợ chồng ông Hồ Phúc H và bà Huỳnh Thúy A đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Hồ Phúc H; về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Bị đơn bà Huỳnh Thúy A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 3 Điều 235 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà A.
Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, ông Hồ Phúc H và bà Huỳnh Thúy A tự nguyện kết hôn và được Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Hậu Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 07/9/2012 nên quan hệ hôn nhân giữa ông H và bà A là hợp pháp, được pháp luật công nhận. Căn cứ vào khoản 1 Điều 85 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, ông H có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Xét lý do yêu cầu ly hôn của ông H, Hội đồng xét xử xét thấy: Ông H cho rằng nguyên nhân do bất đồng ý kiến trong cuộc sống, từ đó thường hay cải vã qua lại nên cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc và sau khi sống ly thân thì ông H và bà A có gặp nhau nhưng không thể hàn gắn tình cảm. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tổ chức phiên hòa giải để động viên vợ chồng ông H và bà A đoàn tụ với nhau nhưng bà A vẫn vắng mặt và ông H vẫn kiên quyết ly hôn với bà A vì tình cảm vợ chồng không còn. Như vậy, tình trạng của vợ chồng ông H và bà A đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, xét việc ông H xin ly hôn với bà A là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 89 và Điều 91 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho ông H được ly hôn với bà A.
Về con chung: Ông Hồ Phúc H xác định trong thời gian chung sống, ông H và bà Huỳnh Thúy A không có con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông Hồ Phúc H xác định trong thời gian chung sống ông H và bà Huỳnh Thúy A không có tài sản chung và không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Từ những phân tích nêu trên, xét đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Ông Hồ Phúc H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Bà Huỳnh Thúy A không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 3 Điều 235, Điều 271, khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 85, khoản 1 Điều 89, Điều 91 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hồ Phúc H.
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Hồ Phúc H được ly hôn với bà Huỳnh Thúy A.
1.2. Về con chung: Ông Hồ Phúc H xác định không có con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
1.3. Về tài sản chung và nợ chung: Ông Hồ Phúc H xác định không có tài sản chung và không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Hồ Phúc H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003709 ngày 20/02/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng; như vậy, ông Hồ Phúc H đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm. Bà Huỳnh Thúy A không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày tống đạt hợp lệ bản án theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Long Phú; - UBND thị trấn T; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Võ Văn Hợi |