- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Dường Cắm H1 khởi kiện ly hôn Nguyễn Thị H2"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HÀ TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08 /2020/HNGĐ-ST. Ngày: 27- 9 - 2021. V/v : Tranh chấp ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HÀ, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hương Lan.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Bích Thủy.
2. Bà Nguyễn Kim Liên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 68/2021/TLST-HNGĐ, ngày 24 tháng 6 năm 2021 về “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2021/QĐXX-ST ngày 06 tháng 9 năm 2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2021/QĐST-HNGĐ ngày 17/9/2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: anh Dường Cắm H1, sinh 1987.
Địa chỉ: Thôn 1, xã Đ1, huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Thôn 1, xã Đ1, huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện đề ngày 23/6/2021 và quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn anh Dường Cắm H1 trình bày: anh và chị Nguyễn Thị H2 đăng ký kết hôn ngày 17/02/2014 tại Uỷ ban nhân dân xã Đ1, huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh. Anh và chị H2 sinh sống đến tháng 8 năm 2017 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra xô xát, cãi vã. Anh và chị Hòa đã nhiều lần tự hòa giải nhưng không đạt kết quả, nên đã ly thân từ tháng 9 năm 2020 đến nay. Những mâu thuẫn trên đã thật sự sâu sắc, cuộc sống vợ chồng không thể tiếp tục kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do vậy đề anh nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị H2.
Về con chung: Anh và chị Nguyễn Thị H2 có 02 con chung là cháu Dường Gia B1, sinh ngày 19/5/2017 và cháu Dường Thành Đ2, sinh ngày 17/11/2014. Nay ly hôn, anh đề nghị Tòa án giao cháu Dường Gia B1 cho anh nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục. Chị Nguyễn Thị H2 sẽ nuôi cháu Dường Thành Đ2 đến khi các cháu trưởng thành (đủ 18 tuổi). Anh và chị H2 không ai phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền qua lại thăm nom con chung không ai được phép cản trở.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh và chị Nguyễn Thị H2 không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí Tòa án: Anh Dường Cắm H1 xin chịu toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa đối với chị Nguyễn Thị H2. Nhưng chị H2 vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án và vắng mặt tại phiên tòa mà không có lý do chính đáng.
Ngày 19/7/2021, Tòa án nhân dân huyện Hải Hà đã tiến hành xác minh tại Thôn 1, xã Đ1, huyện Hải Hà. Qua xác minh, đại diện chính quyền địa phương cho biết: anh Dường Cắm H1 và chị Nguyễn Thị H2 đăng ký kết hôn ngày 17/02/2014 tại UBND xã Đ1, huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh. Anh H1 và chị H2 chung sống với nhau đến tháng 8 năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, chính quyền địa phương đã nhiều lần hòa giải cho anh, chị nhưng không đạt kết quả. Anh H1, chị H2 đã ly thân từ tháng 9 năm 2020 đến nay. Về con chung: anh Dường Cắm H1 và chị Nguyễn Thị H2 có 02 con chung là cháu Dường Gia B1, sinh ngày 19/5/2017 và cháu Dường Thành Đ2, sinh ngày 17/11/2014. Hiện nay cả 02 cháu đều sinh sống và đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn 1 xã Đ1, huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh. Cháu B1 hiện đang sinh sống cùng anh H1, cháu Đ2 hiện đang do chị H2 nuôi dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung: anh Dường Cắm H1 và chị Nguyễn Thị H2 không có tài sản chung, không có nợ chung.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tiến hành tố tụng theo đúng các trình tự thủ tục mà Bộ luật tố tụng dân sự quy định. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong toàn bộ quá trình tiến hành tố tụng tại tòa án mà không có lý do chính đáng. Về nội dung, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn anh Dường Cắm H1: Về tình cảm: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh H1 đối với chị H2. Về con chung: giao cháu Dường Gia B1 cho anh H1 nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục. Chị H2 sẽ nuôi cháu Dường Thành Đ2 đến khi các cháu trưởng thành (đủ 18 tuổi). Anh H1 và chị H2 không ai phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền qua lại thăm nom con chung không ai được phép cản trở. Về tài sản chung và nợ chung: anh H1 không yêu cầu Tòa án giải quyết, chị H2 vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án và không có yêu cầu gì, nên không xét. Anh Dường Cắm H1 phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: anh Dường Cắm H1 và chị Nguyễn Thị H2 đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn 1 xã Đ1, huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh nên căn cứ theo điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh.
Về quá trình tiến hành tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa đối với bị đơn là chị Nguyễn Thị H2. Nhưng chị H2 vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án và vắng mặt tại phiên tòa mà không có lý do chính đáng. Việc Tòa án không tiến hành hòa giải được và xét xử vắng mặt chị H2, anh H1 có đơn xin xét xử vắng mặt là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 207; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về quan hệ hôn nhân: anh Dường Cắm H1 và chị Nguyễn Thị H2 kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ1, huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh ngày 17/02/2014. Hôn nhân của anh, chị là hôn nhân hợp pháp.
Về tình cảm: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn giữa anh H1 và chị H2 phát sinh do tính tình không hợp, quan điểm sống khác nhau. Vợ, chồng sống mỗi người một nơi và ly thân từ tháng 9 năm 2020 đến nay. Việc chị H2 vắng mặt trong toàn bộ quá trình tố tụng tại Tòa án cho thấy chị H2 cũng không có ý thức xây dựng gia đình, không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét thấy tình trạng mâu thuẫn giữa anh, chị là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh H1 đối với chị H2 là phù hợp với thực trạng quan hệ hôn nhân của anh chị, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: anh Dường Cắm H1 và chị Nguyễn Thị H2 có 02 con chung là cháu Dường Gia B1, sinh ngày 19/5/2017 và cháu Dường Thành Đ2, sinh ngày 17/11/2014. Hiện nay cháu B1 đang ở cùng là bố là anh H1, cháu Đ2 hiện đang do chị Nguyễn Thị H2 nuôi dưỡng. Xét thực tế, cháu B1 đang ở cùng bố, cháu Đ2 đang ở cùng mẹ. Thấy rằng việc giao cháu B1 cho anh H1, cháu Đ2 cho chị H2 trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 81 và Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Anh, chị không ai phải cấp dưỡng con và có quyền qua lại thăm nom con chung không ai được phép cản trở.
Về tài sản chung và nợ chung: anh Dường Cắm H1 và chị Nguyễn Thị H2 không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị H2 vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án và không có yêu cầu gì, nên Tòa án không xem xét.
Về án phí: Theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Nguyên đơn anh Dường Cắm H1 phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238; Điều 266; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 1 và khoản 3 Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Anh Dường Cắm H1 được ly hôn chị Nguyễn Thị H2.
2. Về con chung: Giao cháu Dường Gia B1, sinh ngày 19/5/2017 cho anh Dường Cắm H1 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục từ tháng 9/2021 cho đến khi cháu B1 thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Giao cháu Dường Thành Đ2, sinh ngày 17/11/2014 cho chị Nguyễn Thị H2 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục kể từ tháng 9/2021 cho đến khi cháu Đ2 thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, anh H1, chị H2 đều có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con nếu bên kia không nuôi dưỡng được con chung.
3. Về án phí: Anh Dường Cắm H1 phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số: AA/2021/0013514 ngày 23 tháng 6 năm 2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh. Anh Dường Cắm H1 đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi thường trú.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Hải Hà; - TAND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - Chi cục THADS huyện Hải Hà; - UBND xã Đ1, huyện Hải Hà - Lưu VP; hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đỗ Thị Hương Lan |