- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị T và anh L.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH TÂN TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2020/HNGĐ-ST Ngày: 21 - 02 - 2020 V/v tranh chấp “ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH TÂN - TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Kim Ngân Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thanh Bình 2. Ông Trần Văn Giữ
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Trí - là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long không tham gia phiên tòa. Ngày 21 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 281/2019/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2019; về tranh chấp: “ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2020/QĐXX-ST ngày 06 tháng 02 năm 2020 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Chị T, sinh năm 1995. Địa chỉ: ấp B, xã V, huyện T, tỉnh Hậu Giang (có mặt). 2. Bị đơn: Anh L, sinh năm 1995. Địa chỉ: ấp H, xã T (xã Đ cũ), huyện P, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện đề ngày 03/12/2019 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị T trình bày:
Chị và anh L sau thời gian quen biết tìm hiểu nhau, được sự chấp thuận của gia đình tổ chức lễ cưới vào năm 2016, không tặng cho nữ trang. Đăng ký kết hôn ngày 19/02/2016 tại UBND xã Thành Đông, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long. Sau khi cưới vợ chồng sống với gia đình chồng ở ấp Thành Tân, xã Thành Đông, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long hạnh phúc khoảng hơn 01 năm, có 01 con chung: M, sinh ngày 14/9/2016 hiện chị chăm sóc, nuôi dưỡng. Trong thời gian chung sống vợ chồng không tạo lập được tài sản chung nào; vợ chồng không thiếu nợ ai và cũng không cho ai mượn nợ. Mâu thuẫn phát sinh dẫn đến ly hôn là do vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống; anh L cờ bạc, không quan tâm chăm sóc gia đình, vợ con dẫn đến đời sống vợ chồng không hạnh phúc, ly thân từ tháng 9/2018 đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị yêu cầu được ly hôn anh L; về con chung: chị yêu cầu được quyền nuôi M, sinh ngày 14/9/2016, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con; về quan hệ tài sản: không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, chị không còn yêu cầu nào khác. Hiện chị làm nhân viên bán vé xe Công ty xe Phương Trang tại xã Vị Thanh, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang; cách nhà khoảng 10km, thu nhập (lương) 6.300.000 đồng /tháng; chị có đủ điều kiện để trực tiếp nuôi con.
- Tại biên bản hòa giải ngày 31/12/2019 và ngày 06/02/2020 bị đơn anh L trình bày:
Anh thống nhất với lời trình bày của chị T về thời gian kết hôn, quá trình sống chung, vợ chồng anh có đăng ký kết hôn. Nữ trang cưới: không có. Anh và chị T có 01 con chung M, sinh ngày 14/9/2016; hiện chị T chăm sóc, nuôi dưỡng. Trong thời gian chung sống vợ chồng anh không tạo lập được tài sản chung; vợ chồng không thiếu nợ ai và cũng không cho ai mượn nợ. Anh xác định mâu thuẫn là do vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống, từ đó vợ chồng sống với nhau không hạnh phúc. Hiện vợ chồng không còn tình cảm với nhau. Nay chị T xin ly hôn, anh đồng ý ly hôn; về con chung: anh không đồng ý để chị T nuôi con; anh yêu cầu được quyền nuôi con, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con. Hiện anh có nghề nghiệp là làm thuê (cuốc khoai) có thu nhập bình quân 300.000 đồng/ngày; anh sống chung với cha mẹ ruột, cha mẹ có thể phụ giúp trong việc chăm sóc con; nhà anh gần trường, anh có điều kiện đưa đón con đi học hằng ngày; anh xác định anh có điều kiện chăm sóc con; về quan hệ tài sản: không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, anh không còn yêu cầu nào khác.
- Tại phiên tòa: các đương sự giữ nguyên yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
Chị T có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn anh L, anh L có nơi cư trú thuộc huyện Bình Tân nên tranh chấp và quan hệ pháp luật thuộc thẩm quyền thụ lý và giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Tân được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: chị T và anh L tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên hôn nhân giữa chị T và anh L là hợp pháp được pháp luật công nhận.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị T là có cơ sở. Bởi lẽ mâu thuẫn vợ chồng giữa chị và anh Lợi là trầm trọng, không thể hàn gắn được, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, anh chị ly thân từ tháng 9/2018 đến nay; chị T xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh L, chị yêu cầu được ly hôn, anh L đồng ý ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị T được ly hôn anh L là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung:
Chị T yêu cầu được quyền nuôi M, sinh ngày 14/9/2016.
Xét thấy hiện nay chị T làm nhân viên bán vé xe của Công ty xe Phương Trang tại xã Vị Thanh, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang; thu nhập từ lương 6.300.000 đồng /tháng; chị có đủ điều kiện để trực tiếp nuôi con; đảm bảo các điều kiện cho sự phát triển về thể chất và các điều kiện khác cho sự phát triển tốt về tinh thần cho cháu M. Do đó Hội đồng xét xử xem xét giao con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là có căn cứ theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Theo quy định của pháp luật thì người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Tuy nhiên chị T không yêu cầu anh L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về chia tài sản: chị T và anh L không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: chị M phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị T và anh L.
2. Về nuôi con chung:
2.1. Giao con chung M, sinh ngày 14/9/2016 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng.
2.2. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu anh L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình; đồng thời người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về chia tài sản: chị T và anh L không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Chị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) do chị T nộp theo biên lai thu số 0011227 ngày 03/12/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Tân. Vậy chị T đã nộp đủ.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Đương sự có mặt được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND T. Vĩnh Long; - VKSND H. Bình Tân; - Chi cục THADS H. Bình Tân; - UBND xã Tân Thành, H. Bình Tân, T. Vĩnh Long. - Các đương sự; - Lưu. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phan Kim Ngân |