vanban.org

Bản án 08/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân:

Xử cho ly hôn giữa chị Bùi Thị Thu C và anh Phạm Hồng T. Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HNGĐ"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân:
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN BIÊN
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2020/HNGĐ-ST
Ngày 15 - 5 - 2020
“V/v Ly hôn, tranh chấp
nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Chọn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đoàn Thị Kiều Oanh

2. Ông Hà Minh Hằng

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thúy Kiều - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên tham gia phiên tòa: Bà Lai Thị Ngọc Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 253/2019/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2019 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2020/QĐXXST-HNGĐ, ngày 20 tháng 02 năm 2020; Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2020/QĐST-HNGĐ, ngày 09 tháng 3 năm 2020; Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số: 02a/2020/TB-TĐTGMPT, ngày 25 tháng 3 năm 2020 và Thông báo về việc mở phiên tòa dân sự sơ thẩm số 03/2020/TB-MPT, ngày 24 tháng 4 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Thu C, sinh năm 1987

HKTT: Ấp M, xã T.A, huyện A, tỉnh Kiên Giang

Chổ ở hiện nay: K, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang

2. Bị đơn: Anh Phạm Hồng T, sinh năm 1984

Địa chỉ: Ấp M, xã T.A, huyện A, tỉnh Kiên Giang

(Chị C có mặt, anh T vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và những ý kiến tại Tòa án chị Bùi Thị Thu C trình bày yêu cầu như sau:

Chị C và anh Phạm Hồng T chung sống với nhau năm 2007, vợ chồng có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán ở địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T.A, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Vợ chồng sống hạnh phúc được hơn 07 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T không lo làm ăn thường tham gia tệ nạn cờ bạc chị C và gia đình nhiều lần khuyên can nhưng anh T không từ bỏ, khoảng 01 năm nay anh T tham gia tệ nạn nhiều hơn, không lo làm ăn, không quan tâm xây dựng hạnh phúc gia đình, không lo lắng cho vợ con mặc dù gia đình thường xuyên khuyên nhưng anh T không từ bỏ. Nay xét thấy không thể tiếp tục chung sống với anh T, chị yêu cầu Tòa giải quyết cho chị ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 02 người con chung tên Phạm Thảo Khánh B, sinh ngày 22/10/2009 và Phạm Thảo Khánh T, sinh ngày 26/5/2016, hiện đang sống với chị C. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng các con chung Phạm Thảo Khánh B và Phạm Thảo Khánh T, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con cùng chị.

Về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng: Chị C xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, ngoài ra chị không yêu cầu gì thêm.

Bị đơn anh Phạm Hồng T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng hợp lệ từ khi thụ lý vụ án đến hòa giải (02 lần), nhưng anh T không hợp tác, cũng không trình bày ý kiến yêu cầu của mình gửi đến Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của chị C. Tòa án đã tiến hành làm các thủ tục tố tụng theo quy định của Luật tố tụng dân sự và đưa vụ án ra xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Ý kiến của cháu Phạm Thảo Khánh B: Trường hợp cha mẹ cháu ly hôn, cháu xin được sống chung với mẹ là Bùi Thị Thu C, do từ khi cha mẹ các cháu ly thân cháu sống với mẹ Bùi Thị Thu C, hiện tại cuộc sống của các cháu đã ổn định.

Tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án gồm: Đơn khởi kiện xin ly hôn; giấy chứng minh nhân dân (photo công chứng); giấy chứng nhận đăng ký kết hôn bản chính; sổ hộ khẩu gia đình (photo công chứng); bản sao giấy khai sinh Phạm Thảo Khánh B; trích lục khai sinh Phạm Thảo Khánh T; đơn xác nhận tình trạng cư trú của đương sự; biên bản ghi lời khai của đương sự; biên bản xác minh ngày 31/01/2020 và biên bản xác minh ngày 05/02/2020.

Kết quả thu thập chứng cứ: Theo các biên bản xác minh ngày 31/01/2020 và ngày 05/02/2020 làm việc với đại diện Ban lãnh đạo K và Ban lãnh đạo ấp M cho thấy, chị C và anh T chung sống với nhau từ năm 2010, anh chị sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh chị thường xuyên cự cãi bất hòa về quan điểm sống. Trong thời gian chung sống anh chị có 02 người con chung tên Phạm Thảo Khánh B và Phạm Thảo Khánh T, hiện đang sống với chị C, chị chăm sóc chu đáo, phát triển bình thường.

Tại phiên tòa hôm nay:

Chị C giữ nguyên yêu cầu, ý kiến như đã trình bày trên. Anh T vắng mặt không có ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A phát biểu quan điểm:

- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký và nguyên đơn đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; đối với bị đơn vắng mặt nhiều lần không lý do, căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

- Về nội dung vụ án: Xét thấy yêu cầu xin ly hôn, nuôi con chung của chị Bùi Thị Thu C đối với anh Phạm Hồng T là có căn cứ chấp nhận theo Điều 56 và Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Về con chung: Giao các cháu Phạm Thảo Khánh B, sinh ngày 22/10/2009 và Phạm Thảo Khánh T, sinh ngày 26/5/2016 cho chị C tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, theo nguyện vọng của cháu Phạm Thảo Khánh B là có căn cứ chấp nhận theo khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Về tài sản chung: Chị C xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên không đề cập xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Các đương sự có nơi cư trú trên địa bàn huyện A. Căn cứ vào các Điều 28, 35 và 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Kiên Giang.

Về thủ tục tố tụng: Sau khi vụ án được thụ lý, Tòa án đã giao các văn bản tố tụng hợp lệ cho anh T nhưng anh vẫn vắng mặt không lý, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự HĐXX xét xử vắng mặt anh T theo thủ tục chung.

Về nội dung vụ án:

Xét về quan hệ hôn nhân, chị C và anh T cưới nhau vào từ năm 2007, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã T.A, theo giấy Chứng nhận kết hôn số 01/2010 ngày 04/01/2010 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa chị C xin được ly hôn với anh T, do anh chị thường xuyên cự cãi bất hòa về quan điểm sống, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và anh chị đã ly thân từ tháng 02/2019 cho đến nay. Tại phiên tòa hôm nay, chị C vẫn cương quyết xin ly hôn với anh T.

Mặt khác, qua xác minh ngày 31/01/2020 và ngày 05/02/2020 ý kiến của đại diện Ban lãnh đạo ấp đã xác định, trong quá trình vợ chồng anh chị chung sống thì thường xuyên cự cải, bất hòa đời sống hôn nhân không hạnh phúc (Bút lục 46, 47).

Còn anh T thì trong suốt quá trình giải quyết vụ án đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng và thông báo hòa giải hợp lệ nhiều lần đến Tòa án để tiến hành hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng, trở về đoàn tụ cùng lo cho con nhưng anh T không hợp tác và cũng không trình bày ý kiến gì gửi đến Tòa án đối với yêu cầu xin ly hôn của chị C;

Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân giữa chị C và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử thấy yêu cầu xin ly hôn của chị C là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại các Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Về con chung và cấp dưỡng: Chị C và anh T có 02 người con chung tên Phạm Thảo Khánh B, sinh ngày 22/10/2009 và Phạm Thảo Khánh T, sinh ngày 26/5/2016. Chị C yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các con chung tên Phạm Thảo Khánh B và Phạm Thảo Khánh T, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung vì chị C xác định chị hoàn toàn có đủ điều kiện để nuôi các con chung .

Theo nguyện vọng của Phạm Thảo Khánh B khi chị C và anh T ly hôn thì yêu cầu được sống với chị C;

Xét yêu cầu của chị C và nguyện vọng của con anh chị là phù hợp với điều kiện sinh sống hiện tại, không trái đạo đức và phù hợp quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Đối với anh T không ý kiến gì về con chung khi ly hôn.

Anh T có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai đươc ngăn cản. Vì lợi ích của con, khi cần thiết cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án xem xét và quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét giải quyết.

Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ chấp nhận như nêu ở phần nhận định trên.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 144 và Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Do chị C là nguyên đơn nên chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân:

Xử cho ly hôn giữa chị Bùi Thị Thu C và anh Phạm Hồng T.

2. Về con chung:

Giao các cháu Phạm Thảo Khánh B, sinh ngày 22/10/2009 và Phạm Thảo Khánh T, sinh ngày 26/5/2016 cho chị C tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, theo nguyện vọng của cháu Phạm Thảo Khánh B.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị C không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét giải quyết.

Anh T có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được ngăn cản. Vì lợi ích của con, khi cần thiết cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án xem xét và quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản và nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.

4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm:

Chị Bùi Thị Thu C có nghĩa vụ nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số 0002108 ngày 01 tháng 10 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện A, tỉnh Kiên Giang. Vậy chị C đã nộp đủ án phí.

5. Quyền kháng cáo:

Án xử công khai, đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ