vanban.org

Bản án 08/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Bùi Thị Nga: Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Nga được ly hôn anh Hoàng Văn Nguyền. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bùi Thị N + Hoàng Văn N"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ MÓNG CÁI
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2020/HNGĐ-ST
Ngày 21/7/2020
“V/v tranh chấp hôn nhân gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Minh Chiến.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Ái Linh.

2. Bà Đỗ Thị Hân

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Đình Khoa là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Cao Đức Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 7 năm 2020, tại Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 26/2020/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2020 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2020/QĐST-HNGĐ, ngày 02 tháng 7 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Nga, sinh năm: 1977.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú – Địa chỉ: Thôn Bắc, xã Vạn Ninh, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt tại phiên tòa.

2. Bị đơn: Anh Hoàng Văn Nguyền, sinh năm: 1976.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú – Địa chỉ: Thôn Bắc, xã Vạn Ninh, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt lần 2 không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 12/02/2020, tại biên bản lấy lời khai ngày 19/02/2020 và tại phiên tòa nguyên đơn chị Bùi Thị Nga trình bày: Năm 1995, chị và anh Hoàng Văn Nguyền chung sống với nhau, đến năm 1998 thì đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Vạn Ninh, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. Thời gian sau kết hôn vợ chồng hòa thuận hạnh phúc, tuy nhiên đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mẫu thuẫn là vợ chồng không cùng quan điểm sống, anh Nguyền có quan hệ với người phụ nữ khác, thường xuyên có hành vi bạo lực với chị, sống không có trách nhiệm với gia đình. Đến nay, xét thấy tình cảm vợ chồng rạn nứt, không thể hàn gắn, chị làm đơn yêu cầu đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh giải quyết cho chị được ly hôn anh Hoàng Văn Nguyền.

Về con chung: Chị và anh Hoàng Văn Nguyền có 02 (hai) con chung là Hoàng Thị Chúc, sinh ngày 18 tháng 02 năm 2001 và Hoàng Văn Đại, sinh ngày 24 tháng 3 năm 2009. Con chung Hoàng Thị Chúc đã thành niên, chị không có yêu cầu gì. Đối với con chung Hoàng Văn Đại, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đại đến khi thành niên (đủ 18 tuổi). Việc cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn, chị không yêu cầu anh Nguyền phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và các khoản nợ: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Các tài liệu, chứng cứ Tòa án đã thu thập trong quá trình giải quyết vụ án gồm: Bản tự khai của chị Bùi Thị Nga; Biên bản xác minh tại chính quyền địa phương về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng; Biên bản xác minh tại Công an xã Vạn Ninh về việc anh Hoàng Văn Nguyền có hành vi bạo lực với chị Bùi Thị Nga; Quyết định xử phạt vi phạm hành chính của Công an xã Vạn Ninh; Biên bản xác minh tại UBND xã Vạn Ninh về việc ghi sai ngày, tháng, năm sinh của anh Hoàng Văn Nguyền; Giấy khai sinh (bản sao) của anh Hoàng Văn Nguyền.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án và 03 giấy triệu tập cho bị đơn anh Hoàng Văn Nguyền nhưng anh Nguyền đều từ chối nhận văn bản tố tụng. Tại các buổi làm việc ngày 02/3/2020 và 01/4/2020 anh Hoàng Văn Nguyền có mặt tại Tòa án nhưng anh Nguyền từ chối cung cấp lời khai theo yêu cầu của Tòa án. Các ngày 19/3/2020 và 24/4/2020 Tòa án cũng đã tiến hành phối hợp với chính quyền địa phương xuống nơi cư trú của anh Nguyền để lấy lời khai, nhưng đều không tiến hành được do anh Nguyền từ chối cung cấp lời khai. Ngày 11/6/2020, Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh đã ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm thực hiện tống đạt hợp lệ giấy triệu tập cho anh Hoàng Văn Nguyền để tham gia tố tụng tại phiên tòa, tuy nhiên anh Nguyền vắng mặt không lý do. Tại phiên tòa hôm nay, mặc dù đã được tống đạt hợp lệ Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy triệu tập, nhưng anh Nguyền vẫn vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký là đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên kiến nghị về việc trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán chưa mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 208 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành các quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án, Bị đơn, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng từ chối nhận, không thực hiện việc tự khai cũng như lấy lời khai theo quy định của pháp luật, do đó không có ý kiến thể hiện quan điểm về việc giải quyết vụ án.

Ý kiến quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Bùi Thị Nga đối với anh Hoàng Văn Nguyền. Về con chung: Giao con chung là Hoàng Văn Đại cho chị Nga nuôi dưỡng đến khi thành niên, anh Hoàng Văn Nguyền không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung vợ chồng: không đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn chị Bùi Thị Nga đối với Bị đơn anh Hoàng Văn Nguyền là tranh chấp về hôn nhân gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Chị Bùi Thị Nga và anh Hoàng Văn Nguyền đều cư trú tại thành phố Móng Cái, do đó căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.

Về quyền khởi kiện: Căn cứ vào khoản 1 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình, chị Bùi Thị Nga có quyền khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn với anh Hoàng Văn Nguyền.

Trong quá trình giải quyết vụ án anh Hoàng Văn Nguyền đã được triệu tập nhiều lần nhưng đều từ chối nhận văn bản tố tụng. Mặc dù, anh Hoàng Văn Nguyền có mặt tại các buổi làm việc ngày 02/3/2020 và 01/4/2020 nhưng đều từ chối cung cấp lời khai. Tòa án đã tiến hành phối hợp với chính quyền địa phương để lấy lời khai của anh Hoàng Văn Nguyên vào các ngày 19/3/2020 và 24/4/2020 nhưng anh Nguyền đều từ chối cung cấp lời khai, vì vậy Tòa án không tiến hành hòa giải theo quy định tại Điều 54 Luật Hôn nhân gia đình, vụ án được xác định thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn anh Hoàng Văn Nguyền được triệu tập tham gia phiên tòa, nhưng đều vắng mặt không lý do, vì vậy căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vắng mặt anh Hoàng Văn Nguyền.

Đối với kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái về việc trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán không mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 208 Bộ luật tố tụng dân sự là có căn cứ. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, các tài liệu chứng cứ chỉ do Nguyên đơn chị Bùi Thị Nga giao nộp cho Tòa án, Bị đơn anh Hoàng Văn Nguyền không cung cấp lời khai cũng như các tài liệu chứng cứ, thường xuyên vắng mặt khi được Tòa án triệu tập; đối với tài liệu Tòa án thu thập trong quá trình giải quyết vụ án như các Biên bản xác minh đã được công bố tại phiên tòa, Nguyên đơn không có ý kiến gì về các chứng cứ Tòa án thu thập, do đó không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.

Sau khi có yêu cầu bổ sung tài liệu chứng cứ của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, Nguyên đơn chị Bùi Thị Nga đã nộp Giấy khai sinh (bản sao) của anh Hoàng Văn Nguyền cho Tòa án. Hội đồng xét xử nhận thấy: Mặc dù Giấy chứng nhận kết hôn ghi không đúng ngày, tháng sinh của anh Hoàng Văn Nguyền (ghi ngày 13/9/1976), nhưng Giấy khai sinh, Chứng minh thư nhân dân và Sổ hộ khẩu là các giấy tờ pháp lý về nhân thân của anh Hoàng Văn Nguyền đều thể hiện ngày, tháng, năm sinh của anh Nguyền là ngày 07/7/1976. Việc có sai sót ghi sai ngày, tháng sinh của anh Nguyền khi đăng ký kết hôn, đã được UBND xã Vạn Ninh, thành phố Móng Cái xác nhận tại Biên bản xác minh ngày 10/6/2020. Do đó, việc xác định Bị đơn là anh Hoàng Văn Nguyền có ngày, tháng, năm sinh là 07/7/1976 là có căn cứ.

Về nội dung:

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Nga và anh Hoàng Văn Nguyền chung sống từ năm 1995, đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào năm 1998 trên cơ sở tự nguyện, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Trong quá trình giải quyết vụ án đã nhiều lần bị đơn anh Hoàng Văn Nguyền từ chối nhận giấy triệu tập và từ chối cung cấp lời khai, quan điểm đối với yêu cầu ly hôn của nguyên đơn chị Bùi Thị Nga. Như vậy, anh Nguyền đã từ chối việc thực hiện quyền được đưa ra những căn cứ để bác bỏ một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn theo quy định tại Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Căn cứ nội dung trình bày của chị Bùi Thị Nga phù hợp với nội dung xác minh tại chính quyền địa phương, Hội đồng xét xử thấy nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng của chị Bùi Thị Nga và anh Hoàng Văn Nguyền phát sinh từ năm 2013, do anh Nguyền không tu chí làm ăn, lo toan gia đình, hơn nữa anh Nguyền còn có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra va chạm, anh Nguyền còn có hành vi bạo lực với chị Nga đã bị Công an xã Vạn Ninh xử phạt hành chính. Tình trạng này kéo dài, cả hai không có biện pháp khắc phục, không có sự quan tâm chăm sóc, vun vén cho hạnh phúc gia đình, Hội đồng xét xử thấy mục đích hôn nhân giữa chị Bùi Thị Nga và anh Hoàng Văn Nguyền không đạt được, do đó căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Bùi Thị Nga đối với anh Hoàng Văn Nguyền.

2.2. Về con chung: Chị Nga và anh Nguyền có 02 (hai) con chung là Hoàng Thị Chúc, sinh ngày 18/02/2001 (đã thành niên) và Hoàng Văn Đại, sinh ngày 24/3/2009. Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc được nuôi dưỡng con chung chưa thành niên là Hoàng Văn Đại, bị đơn không có nội dung trình bày thể hiện quan điểm về việc nuôi con chung, nguyên nhân nội tại mâu thuẫn vợ chồng, và nguyện vọng của cháu Đại muốn được ở cùng với mẹ, Hội đồng xét xử thấy việc giao con chung là Hoàng Văn Đại cho chị Bùi Thị Nga nuôi dưỡng sẽ đảm bảo việc chăm lo học tập, giáo dục con chung phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức. Đối với việc cấp dưỡng nuôi con chung, chị Nga không yêu cầu anh Nguyền phải cấp dưỡng nuôi con, do đó Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

2.3. Về tài sản chung và các khoản nợ chung vợ chồng: Nguyên đơn chị Bùi Thị Nga không yêu cầu Tòa án giải quyết. Quá trình giải quyết vụ án, Bị đơn anh Hoàng Văn Nguyền đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, được Tòa án triệu tập để trình bày ý kiến, quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, nhưng anh Nguyền không thực hiện nên không có nội dung trình bày thể hiện quan điểm về việc có yêu cầu hay không đối với việc giải quyết tài sản chung và nợ chung vợ chồng, do đó Hội đồng xét xử không đề cập.

Về án phí:

Nguyên đơn chị Bùi Thị Nga phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 207; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

- Điều 26 Luật thi hành án dân sự;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Bùi Thị Nga:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Nga được ly hôn anh Hoàng Văn Nguyền.

2. Về con chung: Giao con chung là Hoàng Văn Đại, sinh ngày 24/3/2009, cho chị Bùi Thị Nga trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Hoàng Văn Nguyền có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được phép cản trở anh Nguyền thực hiện quyền này. Anh Hoàng Văn Nguyền không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Bùi Thị Nga.

3. Về án phí: Chị Bùi Thị Nga phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000174 ngày 17 tháng 02 năm 2020 của Cục thi hành án dân sự thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. Chị Bùi Thị Nga đã nộp đủ tiền án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Bùi Thị Nga có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Hoàng Văn Nguyền có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án Dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ