- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ"
- Tòa quyết gì? Xác định ông Đào Văn T , sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn 7, xã L , huyện T , thành phố Hải Phòng là cha đẻ của cháu bé do bà Nguyễn Thị N sinh ra ngày 27 tháng 6 năm 2016 dự định đặt tên là Đào Văn H theo theo Giấy chứng sinh số 006868, quyển số 70/2016 ngày 27 tháng 6 năm 2016 của …
- Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2020/HNGĐ-ST Ngày: 21-01-2020 V/v tranh chấp về xác định cha cho con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Lý.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Công Hạ
Bà Nguyễn Thị Nga
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Trang Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 01 năm 2020 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 787/2019/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2019 về tranh chấp xác định cha cho con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 291/2019/QĐXX-ST ngày 27 tháng 12 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2020/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Đào Văn T ; địa chỉ: Thôn 7, xã L , huyện T , thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị N ; đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn 5, xã K , huyện T , thành phố Hải Phòng; địa chỉ hiện nay: Thôn 7, xã L , huyện T , thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Đỗ Quang H ; địa chỉ: Thôn 5, xã K , huyện T , thành phố Hải Phòng; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 10 tháng 5 năm 2019 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn ông Đào Văn T trình bày:
Ông Đào Văn T và bà Nguyễn Thị N quen nhau từ năm 2015, có quan hệ tình cảm, ngày 27 tháng 06 năm 2016 bà N đã sinh được cháu trai theo Giấy chứng sinh số 006868, quyển số 70/2016 ngày 27 tháng 6 năm 2016 của bệnh viện phụ sản Hải Phòng (dự định đặt tên là Đào Văn H ). Trong thời gian bà N sinh con, bà N vẫn chưa ly hôn với ông Đỗ Quang H nên con của ông Đào Văn T chưa được làm thủ tục khai sinh. Từ khi con dự định đặt tên Đào Văn H sinh ra đến nay và vẫn do ông T nuôi dưỡng. Tháng 12 năm 2017 bà N ly hôn ông Đỗ Quang H . Để bảo đảm quyền lợi cho ông T và con, ông T đề nghị Tòa án xác định ông là cha đẻ của cháu bé do bà N sinh ra và dự định đặt tên Đào Văn H như đã trình bày ở trên.
Lời khai trong quá trình xét xử bị đơn bà Nguyễn Thị N trình bày: Bà và ông Đào Văn T quen nhau từ năm 2015, hai người có quan hệ tình cảm, ngày 27 tháng 06 năm 2016 bà N đã sinh được con trai dự định đặt tên là Đào Văn H . Trong thời gian sinh con, bà N chưa ly hôn với ông Đỗ Quang H nhưng đã chấm dứt mọi quan hệ với ông Đỗ Quang H . Tháng 12 năm 2017 bà N và ông H ly hôn. Bà N đồng ý với ý kiến của ông T cháu dự định đặt tên Đào Văn H là con đẻ của bà và ông T .
Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Quang H trình bầy: Bà Nguyễn Thị N sinh con dự định đặt tên Đào Văn H trong thời kỳ vẫn còn đang tồn tại quan hệ hôn nhân với ông H . Đề nghị Tòa án căn cứ pháp luật giải quyết.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật và về việc giải quyết vụ án như sau: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; Nguyên đơn và bị đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 89, 91 Luật hôn nhân và gia đình; xác định ông Đào Văn Trung là cha đẻ của cháu dự định đặt tên Đào Văn Hiếu, sinh ngày 27 tháng 6 năm 2016.
Về tài liệu, chứng cứ của vụ án: Giấy chứng sinh số 006868, quyển số 70/2016 ngày 27 tháng 6 năm 2016 của bệnh viện phụ sản Hải Phòng ghi tên người mẹ là Nguyễn Thị N , đã sinh 01 con trai vào ngày 27 tháng 6 năm 2016 tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng; dự định đặt tên con là Đào Văn H . Kết luận giám định AND của Công ty TNHH dịch vụ khoa học kỹ thuật Genpro ngày 19 tháng 4 năm 2019 kết luận: Người có tên Đào Văn T có quan hệ huyết thống cha con với người có mẫu ghi tên Đào Văn H .
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy:
Về tố tụng: Bị đơn bà Nguyễn Thị N cư trú tại Thủy Nguyên, Hải Phòng. Căn cứ Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên có thẩm quyền xét xử vụ án này.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận ông Đào Văn T là cha đẻ của cháu dự định đặt tên Đào Văn H ; phù hợp với Kết luận giám định AND của Công ty TNHH dịch vụ khoa học kỹ thuật Genpro ngày 19 tháng 4 năm 2019 kết luận: Người có tên Đào Văn T có quan hệ huyết thống cha con với người có mẫu ghi tên Đào Văn H . Bản thân các đương sự trình bầy khi ly hôn đều không khai có con chung dự định đặt tên là Đào Văn H , sinh ngày 27 tháng 6 năm 2016. Do vậy, có căn cứ để chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với các Điều 89, 90, 91 và 102 của Luật Hôn nhân và gia đình. Xác định ông Đào Văn Trung là cha đẻ của cháu dự định đặt tên Đào Văn H .
Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, ông Đào Văn Trung là người yêu cầu xác định cha cho con chưa thành niên nên ông Đào Văn T được miễn nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm. Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn là bà Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; các điều 89, 90, 91, 101 và 102 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Xác định ông Đào Văn T , sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn 7, xã L , huyện T , thành phố Hải Phòng là cha đẻ của cháu bé do bà Nguyễn Thị N sinh ra ngày 27 tháng 6 năm 2016 dự định đặt tên là Đào Văn H theo theo Giấy chứng sinh số 006868, quyển số 70/2016 ngày 27 tháng 6 năm 2016 của bệnh viện phụ sản Hải Phòng.
Quyết định của Tòa án về xác định cha, mẹ, con phải được gửi cho cơ quan đăng ký hộ tịch để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch.
2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị N nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn; bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hải Phòng; - VKSND huyện Thuỷ Nguyên; - VKSND thành phố Hải Phòng; - Chi cục THADS huyện Thuỷ Nguyên; - UBND xã L , UBND xã K , huyện Thủy Nguyên, Hải phòng; - Đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hồng Lý |