vanban.org

Bản án 08/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 21/01/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Chu Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Chu Văn V 04 (bốn) tháng 01 (một) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/9/2018. Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo V nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: tịch thu tiêu hủy 01 túi xách bằng vả… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Chu Van V - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Chu Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẢNG BOM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG NAI
–––––––––––––––
Bản án số: 08/2019/HSST
Ngày: 21-01-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thị Ngọc Loan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lộc Văn Bậu và bà Trần Thị Thìn

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Phúc - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Ông Cao Văn Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, Tòa án tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 209/2018/HSST, ngày 14/12/2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2019/HSST-QĐ, ngày 07/01/2019 đối với bị cáo:

Chu Văn V, Sinh năm 1991 tại: Nghệ An. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm 2, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Khu phố 1, thị trấn A, huyện Ph, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Ngư dân; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chu Văn T và bà Phạm Thị M; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: tốt. Bị cáo bị bắt giam ngày 20/9/2018 (Có mặt).

- Người bị hại: Anh Lê Văn T, sinh năm 1987. Trú tại: Tổ 5, ấp 5, xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Ngọc Th, sinh năm 1988. Trú tại: Tổ 5, ấp 5, xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt).

- Người làm chứng:

Anh Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1980

Anh Lê Minh T, sinh năm 1990

(Người làm chứng vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ ngày 19/9/2018, Chu Văn V và Cao Văn T1 rủ nhau đi đến nhà người quen của T1 ở Thị xã L, tỉnh Đồng Nai chơi. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, T1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius (không rõ biển số) chở V đi từ thị xã Long Khánh về thành phố Hồ Chí Minh. Trên đường đi về T1 rủ V trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài, V đồng ý. Sau đó V và T1 đến quán nhậu tên “Mập” cách Quốc lộ 1 khoảng 01 km T1 dựng xe mô tô của mình bên cạnh xe mô tô hiệu YAMAHA Sirius màu đỏ biển số 60B9-280.94 của anh Lê Văn T. V và T1 đi bộ vào quán gọi đồ nhậu rồi T1 đưa chìa khóa xe của T1 và nói “Tý nữa lấy xe mô tô của tao chạy theo tao nhé”. Sau khi chủ quán nấu đồ nhậu xong thì V ra tính tiền, lúc này T1 đi ra vị trí để xe mô tô dùng đoản phá khóa trộm cắp xe mô tô biển số 60B9- 280.94 nổ máy điều khiển đi về hướng TP. Biên Hòa. Lúc này, V biết T1 đã trộm cắp được xe mô tô biển số 60B9- 280.94 nên cũng đi ra lấy xe mô tô của T1 chạy theo sau. Cả hai đi được khoảng 1km thì T1 dừng lại giao xe mô tô trộm cắp được cho V điều khiển (trên gacbaga xe có 01 túi xách bằng vải màu đen bên trong có 01 bộ đoản phá xe gắn máy bằng kim loại của T1) còn T1 điều khiển xe của mình và nói V điều khiển xe mô tô biển số 60B9-280.94 đi theo T1 về Bình Dương để bán xe lấy tiền tiêu xài. Ngay sau khi phát hiện bị mất trộm xe, anh T kiểm tra định vị xe và điện thoại báo cho tổ săn bắt cướp do người dân tự lập ở TP. Biên Hòa nhờ hỗ trợ tìm xe. Khi V điều khiển xe trộm cắp của anh T đi đến khu vực phường Tam Hiệp, TP. Biên Hòa thì bị anh Nguyễn Mạnh Hưng (thành viên của tổ săn bắt cướp) phát hiện giữ người và xe giao lại cho Công an phường Tam Hiệp, còn T1 chạy thoát (bút lục: 34-47).

Ngày 21/9/2018, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Trảng Bom đã yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thuộc UBND huyện Trảng Bom định giá tài sản 01 xe mô tô hiệu YAMAHA Sirius biển số 60B9-280.94. Tại Bản kết luận định giá ngày 25/9/2018, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc UBND huyện Trảng Bom kết luận: 01 xe mô tô hiệu YAMAHA Sirius biển số 60B9-280.94 có trị giá là 11.750.000 đồng (bút lục:25-27)

Vật chứng vụ án là xe mô tô hiệu YAMAHA Sirius biển số 60B9-280.94 là tài sản hợp pháp của anh Lê Văn T và chị Nguyễn Thị Ngọc Thuận (vợ của anh T), nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Trảng Bom đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh T (bút lục: 94). Còn đối với túi xách bằng vải màu đen bên trong có 01 bộ đoản phá khóa xe mô tô bằng thép là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.

Về dân sự: người bị hại anh Lê Văn T đã nhận lại tài sản bị mất và không yêu cầu bồi thường gì về dân sự (bút lục: 60-66).

Tại bản Cáo trạng số 08/CT/VKS-HS, ngày 14/12/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đã truy tố bị cáo Chu Văn V về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

- Áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 và áp dụng hình phạt cho bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo Điều 54 Bộ Luật Hình sự. Xử phạt bị cáo: Từ 04-05 tháng tù.

- Tịch thu tiêu hủy 01 túi xách bằng vải màu đen bên trong có 01 bộ đoản phá khóa xe mô tô bằng thép.

- Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Vào khoảng 20 giờ ngày 19/9/2018, tại xã Bắc Sơn, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, Chu Văn V có hành vi lén lút trộm cắp 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 60B9-280.94 của anh Lê Văn T có trị giá 11.750.000 đồng. Hành vi bị cáo thực hiện đã phạm vào tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ.

Xét nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo thì thấy: bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên cần áp dụng Điều 54 Bộ Luật Hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: 01 túi xách bằng vải màu đen bên trong có 01 bộ đoản phá khóa xe mô tô bằng thép là phương tiện phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom thì thấy phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Đối với tượng tên Cao Văn T1, qua xác minh có nơi cư trú ở xóm 4, xã Quỳnh Giang, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, nhưng hiện nay đã bỏ đi khỏi địa phương chưa làm việc được, nên tách ra tiếp tục làm rõ xử lý sau.

Xét tính hợp pháp của các quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì thấy đúng với quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Chu Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Chu Văn V 04 (bốn) tháng 01 (một) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/9/2018. Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo V nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: tịch thu tiêu hủy 01 túi xách bằng vải màu đen bên trong có 01 bộ đoản phá khóa xe mô tô bằng thép (vật chứng đang được tạm giữ tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/12/2018).

3. Về án phí: Căn cứ điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 buộc bị cáo Chu Văn V phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo, bị hại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, người có mặt tính từ ngày tuyên án, người vắng mặt tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ