vanban.org

Bản án 08/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 01/03/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về tội danh: Tuyên bố các b cáo Lê Văn Q; Tên gọi khác: Lê Thiều Q và Lê Văn N - Phạm tội: Trộm cắp tài sản.

[2] Về Điều luật áp dụng và h nh phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173, đi m s khoản 1, khoản 2, Điều 51, đi m h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật h nh sự. Xử phạt b cáo Lê Văn Q; Tên gọi khác: Lê Thiều Q 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 18/10/2018. Mi n h nh phạt b … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Quang + Nam TCTS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Về tội danh: Tuyên bố các b cáo Lê Văn Q; Tên gọi khác: Lê Thiều Q và Lê Văn N - Phạm tội: Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật h nh sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng h nh sự; Điều 17 Bộ luật h nh sự
TAND HUYỆN LẠNG GIANG
TỈNH BẮC GIANG
Bản án số 08/2019/HSST

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Ngày 01 tháng 03 năm 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Giáp Q Huy.

- Hội thẩm nhân dân:1. ng Nguy n Q Vinh; 2. ng Phạm Đ nh Th n.

- Thư ký phiên toà: ng Đỗ Ngọc Tĩnh-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện ki m sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên tòa: Bà Đ ng Minh Hà - Ki m sát viên sơ cấp.

Trong ngày 01/03 2019, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang, xét xử công khai sơ thẩm vụ án h nh sự thụ lý số: 05/2019/TLST-HS ngày 25/01/2019; Đối với các b cáo:

1. Họ và tên: Lê Văn Q, sinh năm 1984; Tên gọi khác: Lê Thiều Q. Giới tính: N.

- Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn Lan Thượng, xã An Thượng, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang;

- Quốc t ch: Việt N; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Tr nh độ học vấn: 11/12;

- Họ tên bố: Ông Lê Trung T, sinh năm 1954; Họ tên mẹ: Bà Dương Th H, sinh năm 1958 đều làm ruộng ở Lan Thượng, xã An Thượng, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang; Gia đ nh có 03 anh, em, bản thân là thứ ba;

- Vợ: Ch Trần Th H, sinh năm 1989, làm ruộng ở thôn Lan Thượng, xã An Thượng, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang;

- Con: B cáo có hai con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2010;

- Nhân thân: Bản án số 16/2003/HSST ngày 23/6/2003, TAND huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang xử phạt 14 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 28 tháng và 50.000đ án phí về tội "Trộm cắp tài sản" đã chấp hành xong).

- Tiền án: Bản án số 76 2010 HSST ngày 26/11/2010, TAND huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang xử phạt 04 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ tạm giam 14 5 2010, 200.000đ án phí (đã chấp hành xong), trách nhiệm dân sự không có đơn yêu cầu.

+ Bản án số 03 2010 HSST ngày 28 01 2011, TAND huyện Phú B nh, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, 200.000đ án phí h nh sự và 1.450.000đ án phí dân sự đã chấp hành xong), trách nhiệm dân sự không có đơn yêu cầu.

T ng hợp h nh phạt của 02 bản án là 07 năm 06 tháng tù, Q chấp hành xong án phạt tù 02 bản án trên ngày 14 11 2017.

- Tiền sự: Không.

- B cáo đầu thú, b tạm giữ, tạm giam từ ngày 18 10 2018 đến nay. Hiện đang b tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang có m t tại phiên toà).

2. Họ và tên: Lê Văn N, sinh năm 1991. Tên gọi khác: Không có.

- Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn Tân Vân, xã An Thượng, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang;

- Quốc t ch: Việt N; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp:Làm ruộng; Tr nh độ học vấn: 06/12;

- Họ tên bố: Lê Văn G, sinh năm 1958; Họ tên mẹ: Đỗ Th T, sinh năm 1958 đều làm ruộng ở thôn Tân Vân, xã An Thượng, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang; Gia đ nh có 02 anh, em, bản thân là thứ nhất; Vợ, con: Chưa có;

- Tiền án, tiền sự: Không.

- B cáo không b tạm giữ, tạm giam. Được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cứ trú. Hiện b cáo tại ngoại có m t tại phiên toà).

- Người b hại: ng Đ ng Công K, sinh năm 1956 vắng m t tại phiên toà)

Đ a chỉ: Thôn Vĩnh Th nh, xã Tân Hưng, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Văn Q, sinh năm 1984 ở thôn Lan Thượng, xã An Thượng, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang và Lê Văn N, sinh năm 1991 ở thôn Tân Vân, xã An Thượng là anh em họ. Khoảng 08 giờ sáng ngày 02 10 2018, N gọi điện thoại cho Q hỏi đang ở đâu th Q nói đang sửa xe ở ngã ba th trấn Nhã N, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang, N liền đi xe mô tô nhãn hiệu Honda Visson - BKS 98C1-148.15 của N đến g p Q. Thấy N đến, Q nảy ý đ nh cùng N đi trộm cắp tài sản, liền rủ N đi chơi, N đồng ý. Q bảo N cả hai cùng đi gửi xe mô tô của N ở nhà người quen Hương Cường, sau đó N điều khi n xe mô tô-BKS 20L6-7828 của Q chở Q đi; Trên đường đi chơi, Q bảo N chở đi lấy xe tức đi trộm cắp xe), N hi u ý và đồng ý đi trộm cắp xe cùng Q.

N điều khi n xe chở Q theo đường từ Tân Yên đến Tân Sỏi qua th trấn Bố Hạ về Tiên Lục đến th trấn Vôi, huyện Lạng Giang đ sang Bảo Sơn, huyện Lục N, tỉnh Bắc Giang. Khi đi đến gần đoạn chân đường cao tốc đang thi công thuộc thôn Vĩnh Th nh, xã Tân Hưng, huyện Lạng Giang th Q phát hiện 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Sirius màu trắng-đen có BKS 98M1-031.14 của ông Đ ng Công K, sinh năm 1956 ở thôn Vĩnh Th nh đ bên trái lề đường hướng đi Lục N, đầu xe hướng ngã tư Vôi, Q bảo N lùi xe, đi chậm lại, quay vòng khoảng 02 đến 03 lần, mục đích quan sát có ai khác trông coi xe không đ trộm cắp. Quan sát thấy không có ai trông coi, Q bảo N đi chậm lại và dừng xe cách xe Sirius khoảng 100m, sau đó Q bảo N điều khi n xe của Q đi và hẹn g p ở cây xăng Q Tiến, huyện Tân Yên, còn Q đi bộ đến chỗ đ xe Sirius. N tiếp tục đi, khoảng 50m hướng Lục N th dừng lại, lúc này Q sử dụng vam phá khóa h nh chữ “T” và thanh phá khóa kim loại h nh lục lăng một đầu dẹt lắp vào nhau đ ở trong túi quần từ trước, chọc vào khóa điện, dùng tay phải v n mạnh theo chiều kim đồng hồ th mở được khóa, đề n máy rồi Q điều khi n xe trộm cắp được hướng th trấn Vôi đi Bố Hạ, qua Cao Thượng, Tân Yên đến cây xăng Q Tiến. Tại đây, Q chờ khoảng 30 phút không thấy N đến, sau đó vào nhà nghỉ ở huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang (không nhớ đ a chỉ). Sáng ngày hôm sau, Q đem chiếc xe Sirius trộm cắp được cầm cố cho một người đàn ông không quen biết ở huyện Việt Yên với giá 3.000.000đ, Q nhận 2.850.000đ (đã b cắt lãi 150.000đ).

Sau khi Q trộm cắp được xe, lúc này khoảng 10 giờ 20 phút cùng ngày, N điều khi n xe mô tô của Q bỏ chạy đến khu vực công trường thi công tuyến đường Quốc lộ 1A đoạn qua xã Tân Hưng, giao cắt với đường tỉnh lộ 295 th b anh Phùng Thế Lĩnh, sinh năm 1976 ở Khu 3, xã Tam Cường, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ và quần chúng nhân dân bắt giữ bàn giao người và vật chứng N tự giao nộp gồm: 01 thanh kim loại một đầu dẹt một đầu h nh trụ lục lăng đ trong túi quần phía sau bên trái đang m c N khai quá tr nh đi xe Q đã đ vào túi N); 01 chìa khóa xe mô tô, 01 xe Sirius màu đỏ-đen gắn BKS 20L6-7882 cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Lạng Giang.

Sau khi biết N b bắt, ngày 16/10/2018, Q t m được người mua và chuộc lại chiếc xe trên với giá 3.000.000đ, ngày 18 10 2018 Q đến Công an huyện Lạng Giang đầu thú và giao nộp chiếc xe trên cùng 100.000đ, 01 điện thoại di động Nokia đen-trắng màu xanh cho Cơ quan điều tra.

Đối với ông Đ ng Công K, sau khi phát hiện b trộm cắp xe mô tô, ngày 02 10 2018 đã tr nh báo Công an huyện Lạng Giang.

Ngày 18/10 2018, Hội đồng đ nh giá tài sản trong tố tụng h nh sự huyện Lạng Giang đ nh giá 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu trắng-đen BKS 98M1- 031.14 đã qua sử dụng có giá 5.500.000đ.

Ngày 07/12 2018, Cơ quan CSĐT Công an huyện Lạng Giang đã trả lại chiếc xe Sirius trên cho ông Đ ng Công K, ông K đã nhận xe không có yêu cầu bồ thường và có đơn xin giảm nhẹ h nh phạt cho Q và N.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đỏ-đen, số khung: RLCS5C640BY558588, có số máy 5C64558588, gắn BKS 20L6 - 7828, Q dùng đ đi trộm cắp xe, Q khai mua của một người đàn ông tên Tuân, Q không biết tên tu i đ a chỉ cụ th vào khoảng tháng 9 2018, Cơ quan điều tra đã xác minh chiếc xe trên là của Dương Q Nghĩa, sinh năm 1984 ở xóm Phẩm, xã Dương Thành, huyện Phú B nh, tỉnh Thái Nguyên là b hại trong một vụ án khác, ngày 06 12 2018, Cơ quan CSĐT Công an huyện Lạng Giang đã chuy n Cơ quan CSĐT Công an huyện Phú B nh, tỉnh Thái Nguyên giải quyết theo thẩm quyền.

Về chiếc BKS20L6 - 7828 có đăng ký xe mang tên Nguy n Minh Tiến tức Nguy n Văn Tiến) sinh năm 1982 ở thôn Tân Lập, xã Tân Đức, huyện Phú B nh, tỉnh Thái Nguyên, cơ quan điều tra đã xác minh hiện anh Tiến đã bán chiếc xe cho một người không nhớ tên tu i đ a chỉ cụ th nên không xác đ nh được.

Đối với 01 vam chữ “T” Q dùng phá khóa xe, Q vứt trên đường đi, không nhớ rõ v trí nên không có căn cứ truy t m.

Đối với 100.000đ Q giao nộp là tiền của ch Trần Th Hương, sinh năm 1989 ở thôn Lan Thượng, xã An Thượng là vợ của Q không liên quan đến hành vi phạm tội của Q, Cơ quan điều tra đã trả lại ch Hương.

Quá tr nh điều tra, Q khai không biết tên, tu i, đ a chỉ của người mua xe ở Việt Yên, nên cơ quan điều tra không xác đ nh được.

Ngoài ra Q và N còn khai nhận: Khoảng giữa tháng 9 2018 (Q và N không nhớ cụ th ngày), Q và N còn trộm cắp 01 xe mô tô loại xe Wave màu xanh đ ở cửa một nhà dân thuộc khu vực th trấn Vôi, huyện Lạng Giang bán cho đối tượng tên Hoan được 3.500.000đ, Q chia cho N 200.000đ, số tiền còn lại Q đã ăn tiêu cá nhân hết. Quá tr nh điều tra đã xác đ nh hiện trường vụ án theo chỉ dẫn của Q và N, thông báo t m b hại tuy nhiên không xác đ nh được. Đối với đối tượng Hoan mua xe Q trộm cắp, Cơ quan điều tra đã xác minh số điện thoại 0987398555 là của Nguy n Q Anh, sinh năm 1998 ở thôn Chung 2, xã Lam Cốt, huyện Tân Yên hiện đang sinh sống và làm việc tại Nhật Bản từ năm 2017, không có m t tại đ a phương nên không xác đ nh được đối tượng Hoan và chưa có căn cứ xử lý đối với Q và N trong vụ án này.

Về t nh tiết tăng n ng TNHS: B cáo Lê Văn N không có t nh tiết tăng n ng TNHS. B cáo Lê Văn Q đã b K án về tội "Trộm cắp tài sản" năm 2010 và năm 2011 chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi "Trộm cắp tài sản" nên phải ch u t nh tiết tăng n ng TNHS là tái phạm theo đi m h khoản 1 Điều 52 Bộ luật h nh sự.

Về t nh tiết giảm nhẹ TNHS: Quá tr nh điều tra, truy tố b cáo Lê Văn Q và b cáo Lê Văn N có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; các b cáo được người b hại xin giảm nhẹ h nh phạt, b cáo Lê Văn Q ra đầu thú và có bố là Lê Trung Tâm được t ng huân chương chiến sĩ giải phóng hạng ba; b cáo Lê Văn N có ông nội là Lê Duy Quế và bác ruột là Lê Duy Hòe là liệt sỹ hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ, nên các b cáo được hưởng t nh tiết giảm nhẹ theo quy đ nh tại đi m s khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật h nh sự. Ngoài ra b cáo Lê Văn N phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên còn được áp dụng t nh tiết giảm nhẹ TNHS theo quy đ nh tại đi m i khoản 1 Điều 51 Bộ luật h nh sự.

Vật chứng còn lại gồm: 01 điện thoại di động Nokia đen-trắng, 01 thanh kim lại một đầu dẹt một đầu h nh trụ lục lăng, 01 chìa khóa mô tô, 01BKS20L6-7882 Cơ quan điều tra chuy n theo cùng vụ án đ giải quyết.

Tại Cơ quan điều tra, Lê Văn Q và Lê Văn N đã khai nhận toàn bộ di n biến hành vi phạm tội của m nh như đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 10/CT-VKS-LG ngày 25 01 2019 của Vện ki m sát huyện Lạng Giang đã truy tố các b cáo về tội " Trộm cắp tài sản" theo quy đ nh tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật h nh sự.

Tại phiên toá, các b cáo đã khai nhận toàn bộ di n biến hành vi phạm tội của m nh như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và không có ý kiến g về nội dung bản cáo trạng nêu trên.

Đại diện Viện ki m sát huyện Lạng Giang trình bày quan đi m:

- Về tội danh: Đề ngh tuyên bố các b cáo Lê Văn Q và Lê Văn N - Phạm tội: Trộm cắp tài sản.

- Về Điều luật áp dụng và h nh phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173, đi m s khoản 1, khoản 2, Điều 51, đi m h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật h nh sự.

Xử phạt b cáo Lê Văn Q từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 18/10/2018, tiếp tục tạm giam b cáo đ đảm bảo thi hành án. Mi n h nh phạt b sung là phạt tiền cho b cáo v thuộc diện hộ ngh o.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, đi m i, s khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật h nh sự.

Xử phạt b cáo Lê Văn N từ 07 tháng tù đến 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án. Mi n h nh phạt b sung là phạt tiền cho b cáo v b cáo là lao động chính, chưa có vợ và có bố đ b bệnh tâm thần.

- Về vật chứng: Áp dung khoản 1 Điều 47 Bộ luật h nh sự, đi m a, c khoản 2, đi m a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng h nh sự.

- Trả lại b cáo Lê Văn Q 01 điện thoại di động Nokia loại đen trắng, mầu xanh.

- T ch thu tiêu hu 01 thanh kim loại một đầu dẹt một đầu h nh trụ lục lăng, 01 BKS 20L6-7882, 01 ch a khoá xe mô tô chiếc xe Sirius mầu đỏ đen.

- Về trách nhiêm dân sự: B hại không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng h nh sự, đi m đ khoản 1 Điều 12 Ngh quyết 326 2016 UBTVQH 14 ngày 30 12 2016, xác đ nh b cáo Q thuộc diện hộ ngh o, b cáo N là thân nhân liệt sĩ nên mi n án phí HSST cho các b cáo.

Các b cáo không có ý kiến tranh luận g về quan đi m của Đại diện Viện ki m sát nêu trên.

Các b cáo nói lời sau cùng: Mong HĐXX, xử cho các b cáo được hưởng mức h nh phạt nhẹ nhất đ các b cáo có điều kiện cải tạo tốt nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án; Căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa; Căn cứ vào quan đi m của Đại diện VKS; HĐXX nhận định:

Về hành vi, quyết đ nh của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện ki m sát, Ki m sát viên: Trong quá tr nh điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, t nh tự, thủ tục quy đ nh của Bộ luật tố tụng h nh sự. Quá tr nh điều tra và tại phiên tòa, b cáo không có ý kiến ho c khiếu nại về hành vi, quyết đ nh của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết đ nh tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Khoảng 10 giờ 20 phút ngày 02 10 2018, tại khu vực thôn Vĩnh Th nh, xã Tân Hưng, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang, Lê Văn Q và Lê Văn N có hành vi trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu trắng đen BKS 98M1- 031.14 của ông Đ ng Công K, sinh năm 1956 ở thôn Vĩnh Th nh, xã Tân Hưng, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang, xe mô tô có tr giá 5.500.000đ. Cơ quan điều tra đã thu hồi xe trả cho ông Đ ng Công K và ông Đ ng Công K không yêu cầu các b cáo bồi thường g về dân sự.

Hành vi mà các b cáo thực hiện là hành vi nguy hi m cho xã hội, đã cố ý trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự tr an xã hội, gây bất b nh trong nhân dân. Tài sản các b cáo trộm cắp có giá tr 5.500.000đ; Do đó Viện ki m sát huyện Lạng Giang đã truy tố các b cáo về tội danh "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật h nh sự là đúng người, đúng tội, đúng qui đ nh pháp luật h nh sự.

Đối với b cáo Lê Văn Q là người khởi xướng, dủ dê b cáo Lê Văn N cùng tham ra thực hiện hành vi phạm tội và b cáo Q là người trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản; Do đó xác đ nh b cáo Lê Văn Q là người giữ vai trò chính trong vụ án, nên phải ch u TNHS cao hơn b cáo Lê Văn N.

Đối với b cáo Lê Văn N là người là người được b cáo Lê Văn Q dủ dê tham gia trộm cắp tài sản và đồng ý thực hiện hành vi phạm tội cùng b cáo Lê Văn Q; Do đó xác đ nh b cáo Lê Văn N giữ vai trò đồng phạm với vai trò giúp sức trong vụ án và phải ch u TNHS tương xứng với vai trò của m nh.

Do đó cần áp dụng một mức h nh phạt tù có thời hạn tương xứng với tính chất và vai trò của các b cáo mới có đủ điều kiện đ cải tạo, giáo dục các b cáo chở thành công dân biết tuân thủ pháp luật.

. Về nhân thân: Bản án số16 2003 HSST ngày 23 6 2003, Toà án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang xử phạt b cáo Lê Văn Q 14 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 28 tháng và 50.000đông án phí về tội "Trộm cắp tài sản" chấp hành xong án phí ngày 12 11 2003. B cáo Lê Văn N là người có nhân thân tốt.

. Về t nh tiết tăng n ng TNHS: B cáo Lê Văn N không phải ch u t nh tiết tăng n ng TNHS nào. B cáo Lê Văn Q đã b K án về tội "Trộm cắp tài sản" năm 2010 và năm 2011 chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi "Trộm cắp tài sản" nên phải ch u t nh tiết tăng n ng TNHS là tái phạm theo qui đ nh tại đi m h khoản 1 Điều 52 Bộ luật h nh sự.

Về t nh tiết giảm nhẹ TNHS: Quá tr nh điều tra, truy tố và xét xử, b cáo Lê Văn Q và b cáo Lê Văn N có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; các b cáo được người b hại xin giảm nhẹ h nh phạt, b cáo Lê Văn Q ra đầu thú và có bố là Lê Trung Tâm được t ng huân chương chiến sĩ giải phóng hạng ba; b cáo Lê Văn N có ông nội là Lê Duy Quế và bác ruột là Lê Duy Hòe là liệt sỹ hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ, nên các b cáo được hưởng t nh tiết giảm nhẹ TNHS theo quy đ nh tại đi m s khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật h nh sự. Ngoài ra b cáo Lê Văn N phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trong nên được hưởng t nh tiết giảm nhẹ TNHS theo quy đ nh tại đi m i khoản 1 Điều 51 Bộ luật h nh sự. Do đó cần xem xét đ giảm nhẹ cho các b cáo một phần h nh phạt khi lượng h nh. Do b cáo Q thuộc diện hộ ngh o, b cáo N là lao động chính trong gia đ nh và là thân nhân liệt sĩ nên cần mi n h nh phạt b sung là phạt tiền cho các b cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dung khoản 1 Điều 47 Bộ luật h nh sự, đi m a, c khoản 2, đi m a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng h nh sự.

Trả lại b cáo Lê Văn Q 01 điện thoại di động Nokia đen trắng không liên quan đến hành vi phạm tội.

T ch thu tiêu hu 01 thanh kim loại một đầu dẹt một đầu h nh trụ lục lăng, 01 BKS 20L6-7882, 01 ch a khoá xe mô tô chiếc xe Sirius mầu đỏ đen v không còn giá tr sử dụng.

Về trách nhiêm dân sự: Người b hại không yêu cầu nên không đ t ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng h nh sự, đi m đ khoản 1 Điều 12 Ngh quyết 326 2016 UBTVQH14 ngày 30 12 2016, xác đ nh b cáo Q thuộc diện hộ ngh o, b cáo N là thân nhân liệt sĩ nên mi n án phí cho các b cáo.

Về quyền kháng cáo: Các b cáo, người b hại, được quyền kháng cáo bản án theo quy đ nh của pháp luật.

V các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

[1] Về tội danh: Tuyên bố các b cáo Lê Văn Q; Tên gọi khác: Lê Thiều Q và Lê Văn N - Phạm tội: Trộm cắp tài sản.

[2] Về Điều luật áp dụng và h nh phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173, đi m s khoản 1, khoản 2, Điều 51, đi m h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật h nh sự.

Xử phạt b cáo Lê Văn Q; Tên gọi khác: Lê Thiều Q 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 18/10/2018. Mi n h nh phạt b sung là phạt tiền cho b cáo.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, đi m i, s khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật h nh sự.

Xử phạt b cáo Lê Văn N 07 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án. Mi n h nh phạt b sung là phạt tiền cho b cáo.

[3] Về vật chứng: Áp dung khoản 1 Điều 47 Bộ luật h nh sự, đi m a, c khoản 2, đi m a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng h nh sự.

Trả lại b cáo Lê Văn Q 01 điện thoại di động Nokia đen trắng.

T ch thu tiêu hu 01 thanh kim loại một đầu dẹt một đầu h nh trụ lục lăng, 01 BKS 20L6-7882, 01 ch a khoá xe mô tô chiếc xe Sirius mầu đỏ đen.

[4] Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng h nh sự, đi m đ khoản 1 Điều 12 Ngh quyết 326 2016 UBTVQH14 ngày 30 12 2016.

Mi n án phí h nh sự sơ thẩm cho các b cáo.

[5] Về quyền kháng cáo: Các b cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày k từ ngày tuyên án. Người b hại vắng m t) được quền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày k từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án được thi hành án theo quy đ nh tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự th người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án ho c b cưỡng chế thi hành án theo quy đ nh tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luât thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy đ nh tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

HỘI TH M NHÂN DÂN

TH M PHÁN-CHỦ TOẠ PHI N TO

Cỡ chữ