- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Mạnh H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trầ n Mạ nh H phạm tội “Trộ m cắ p tà i sả n”.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 52 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2019/HS-ST Ngày 27-02-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễ n Thá i Hà .
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Phạm Huy Cảm.
Ông: Hoàng Văn Ngân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoà n Khá nh Nguyệ t-Thư ký tòa án nhân dân thành phố Lào Cai.
- Đại diện Viện kiể m sát nhân dân thành phố Lào Cai tham gia phiên
tòa: Ông Nguyễ n Hả i Bằ ng- Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2019, tại hộ i trườ ng xé t xử số 1 trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2019/TLST-HS ngày 30 tháng 01 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2019/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2018 đối với bị cáo:
Trầ n Mạ nh H , sinh ngày 22 tháng 8 năm 1990, tại huyệ n B, tỉnh Lào Cai. ĐKHKTT và chỗ ở : Thôn 8, xã Đ, thành phố L, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việ t Nam; con ông Trầ n Văn Đ , sinh năm 1970 (Đã chế t) và bà Phạm Minh Th , sinh năm 1971. Trú tại thôn 8, xã Đ, thành phố L, tỉnh Lào Cai ; bị cáo có vợ là Đặng Thị L , sinh năm 1997 (Ly hôn năm 2016) và có 01 con, sinh năm 2014. Hiệ n trú tạ i thôn 8, xã Đ, thành phố L , tỉnh Lào Cai ; tiền án: 01. Tại bản án số 26/2016/HSST ngày 11 tháng 3 năm 2016 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, xử phạt bị cáo Trầ n Mạ nh H 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 02 tháng 9 năm 2017; tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ , tạm giam từ ngà y 5 tháng 12 năm 2018. Hiệ n đang bị tạ m giam tạ i trại giam Công an tỉnh Lào Cai. Có mặt.
Ngườ i bị hạ i: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1998.
Đị a chỉ : Thôn S, xã Kh, huyệ n V, tỉnh Lào Cai. Vắ ng mặ t.
Người làm chứng:
- Chị: Hà Thị H, sinh năm 1986.
Địa chỉ: Đội 1, xă K, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắ ng mặ t.
- Cháu: Hà Văn T, sinh ngày 12 tháng 7 năm 2002.
Địa chỉ: Đội 1, xă K, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắ ng mặ t.
Người giám hộ cho cháu Hà Văn T: Anh Hà Văn Ng, sinh năm 1976.
Địa chỉ: Thôn Chiềng 8, xă V, huyện V, tỉnh Lào Cai. Vắ ng mặ t.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 3 tháng 12 năm 2018, Trầ n Mạ nh H, sinh ngà y 22 tháng 8 năm 1990, trú tại thôn 8, xã Đ, thành phố L, tỉnh Lào Cai cùng chị Hà Thị H, sinh năm 1986, trú tại đội 1, xã K, huyệ n B, tỉnh Lào Cai đến quán Game chơi trò chơi bắ n Cá tại số nhà 060, đườ ng Ng, tổ 01, phườ ng L, thành phố L, tỉnh Lào Cai thì gặp Hà Văn T , sinh năm 2002, trú tại đội 1, xã K, huyệ n B, tỉnh Là o Cai, cả ba cùng chơi bắn C á. Đế n khoả ng 13 giờ cù ng ngà y, do chơi hế t tiề n nên Trầ n Mạ nh H đã nả y sinh ý đị nh trộ m cắ p tà i sả n để bá n lấ y tiề n tiêu sà i. Ngay lú c đó Trầ n Mạ nh H nhìn thấy trên bàn uống nước trong quán có chùm chìa k hóa, nghĩ là chìa khóa của chiếc xe máy điện màu đỏ , nhãn hiệu Milan II để ở ngoà i cử a. Trầ n Mạ nh H đã ra bà n uố ng nướ c lấ y chù m chì a khó a, đồ ng thờ i bả o Hà Thị H, Hà Văn T đi về trước. Sau khi Hà Thị H và Hà Văn T đi bộ về đượ c mộ t lú c thì Trầ n Mạ nh H ra cử a quá n , quan sá t không có ngườ i trông c oi quả n lý chiế c xe máy điện đó , nên đã đi đế n dù ng chiế c chì a khó a vừ a lấ y đượ c cắ m và o ổ khó a mở khóa điện chiếc xe , rồ i ngồ i lên điề u khiể n xe đi về , khi đi đế n cầ u Cố c Lế u thì gặ p Hà Thị H và Hà Văn T đang đi bộ . Trầ n Mạ nh H đã lầ n lượ t chở Hà Thị H và Hà Văn T về lá n nhà trọ. Đế n ngà y 5 tháng 12 năm 2018, hành vi trộm cắ p củ a Trầ n Mạ nh H bị phát hiện và Cơ quan điều tra Công an thành phố Lào Cai bắt giữ Trầ n Mạ nh H cùng tang vật.
Tại bản kết luận định giá tài sản ngày 10 tháng 12 năm 2018 của hộ i đồ ng đị nh giá tà i sả n thà nh phố Lào Cai kết luận: 01 chiế c xe máy điện màu đỏ, nhãn hiệ u Milan II, trị giá 5.040.000 đồ ng (Năm triệ u không trăm bố n mươi nghì n đồ ng).
Tại bản cáo trạng số 15/CT-VKS ngà y 28 tháng 01 năm 2018 của Viện kiể m sá t nhân dân thà nh phố Là o Cai , truy tố Trầ n Mạ nh H về tộ i “Trộ m cắ p tà i sản’ theo quy đị nh tạ i khoả n 1 Điề u 173 Bộ luậ t hì nh sự .
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trầ n Mạ nh H phạm tội “Trộ m cắ p tà i sả n ”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điể m h, s khoả n 1 Điề u 51; điểm h khoả n 1 Điề u 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trầ n Mạ nh H mức án từ 7 tháng đến 9 tháng tù. Không á p dụ ng hì nh phạ t bổ sung là hì nh phạ t tiề n đố i vớ i bị cá o quy đị nh tạ i khoản 5 Điề u 173 Bộ luậ t hì nh sự .
Tuyên án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Lào Cai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo Trầ n Mạ nh H tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ qu an điề u tra, biên bả n thu giữ vậ t chứ ng, lờ i khai ngườ i bị hạ i , bản kế t luậ n đị nh giá tài sản ngày 10 tháng 12 năm 2018 của Hộ i đồ ng đị nh giá tà i sả n thành phố Lào Cai, các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậ y, có căn cứ xác định ngày 3 tháng 12 năm 2018, bị cáo Trầ n Mạ nh H đã thự c hiệ n hà nh lén lút chiếm đoạt 01 chiế c xe má y điệ n , màu đỏ , nhãn hiệu Milan II, trị giá 5.040.000 đồ ng củ a chị Nguyễn Thị H . Hành vi của bị cáo Trầ n Mạnh H đã xâm phạ m đế n quyề n sở hữ u tà i sả n củ a ngườ i khá c đượ c phá p luậ t bảo vệ. Hộ i đồ ng xé t xử kế t luậ n bị cá o Trầ n Mạ nh H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy đị nh tạ i khoả n 1 Điề u 173 Bộ luậ t hì nh sự .
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại bản án số 26/2016/HSST ngày 11 tháng 3 năm 2016 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, xử phạt bị cáo Trầ n Mạ nh H 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 02 tháng 9 năm 2017 đến lần phạm tội này chưa được xóa án tích. Nên bị cáo Trầ n Mạ nh H phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy đị nh tạ i điể m h khoản 1 Điề u 52 Bộ luậ t hì nh sự .
Về tình tiết giảm nhẹ của bị cáo: Hội đồng xét xử nhậ n đị nh tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, gây thiệ t hạ i không lớ n , nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Hộ i đồ ng xé t xử xé t thấ y bị cáo tuổ i trẻ nhưng không chị u tu dưỡ ng rè n luyệ n bả n thân , không chị u lao độ ng bằ ng chính sức lao động mà trộm cắp tài sản của người khác , điề u đó cho thấ y ý thứ c không tôn trọ ng phá p luậ t và tà i sả n củ a ngườ i khá c . Nên cầ n xé t xử mứ c á n phù hợ p tương xứ ng tí nh chấ t mứ c đ ộ hành vi phạm tộ i củ a bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gi an nhấ t đị nh để giá o dụ c , cải tạo bị cáo trở thành công dân tố t cho gia đì nh và xã hộ i . Xét thấy bị cáo không nghề nghiệp, tài sản nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về trá ch nhiệ m dân sự : Cơ quan điề u tra đã thu giữ xác định 01 chiế c xe máy điện, màu đỏ, nhãn hiệu Milan II, trị giá 5.040.000 đồ ng (Năm triệ u không trăm bố n mươi nghì n đồ ng) là tài sản của chị Nguyễn Thị H, nên Cơ quan điề u tra đã trả cho chị Nguyễn Thị H . Chị không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không đề cậ p giả i quyế t.
Trong vụ á n có đố i tượ ng là cháu Hà Văn T là người làm thuê cùng bị cáo, bị cáo Trầ n Mạ nh H trộ m cắ p tà i sả n xong, sau đó thì cháu Hà Văn T mớ i biế t nhưng không tố giá c tộ i phạ m. Quá trình điều tra xét thấy chưa đủ yêu tố cấu thành tội phạm . Nên cơ quan điề u tra không xử lý cháu Hà Văn T là đúng quy đị nh phá p luậ t.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu số tiề n là 200.000 đồng (Hai trăm nghì n đồ ng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Trầ n Mạ nh H phạm tội “Trộ m cắ p tà i sả n”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điể m h, s khoả n 1 Điề u 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trầ n Mạ nh H 7 (Bẩ y) tháng tù. Thời gian chấp hành án tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 5 tháng 12 năm 2018.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trầ n Mạ nh H phải chịu số tiền là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Ngườ i bị hạ i vắ ng mặ t có quyề n khá ng cá o bả n á n trong hạ n 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án. N¬i nhËn:
| - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh, TP; - CATP; Trại giam; - Bị cáo; - Ngườ i bị hạ i; - Chi cục THATP; - Sở tư phá p; - Phòng lưu trữ hồ sơ CA tỉnh; - Lưu hồ sơ vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thái Hà |