vanban.org

Bản án 08/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hải Dương, tỉnh Hải Dương Tuyên án 25/01/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Mạnh C, phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vũ Mạnh C 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tính từ ngày 08/10/2018. Về án phí: Buộc bị cáo Vũ Mạnh C phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Mạnh C Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Mạnh C, phạm tội "Trộm cắp tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HD
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2019/HS-ST
Ngày: 25/01/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HD, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Mai Hoa.

Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Nguyễn Thị Bích Thảo

- Ông Đào Duy Ngọc

- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Ngọc Anh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố HD, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố HD, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Vũ Đức Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố HD, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 245/2018/TLST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 254/2018/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2018, Quyết định hoãn phiên tòa số 51/2018/HSST-QĐ ngày 30/11/2018, Quyết định hoãn phiên tòa số 54/2018/HSST- QĐ ngày 28/12/2018 đối với bị cáo:

Vũ Mạnh C, sinh năm 1968; ĐKHKTT và chỗ ở: Khu 15, phường NC, thành phố HD; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Vũ Ngọc Th (đã chết - ông Th là thương binh hạng 3/6 theo giấy chứng nhận thương binh số BT 2162 ngày 10/12/1982) và bà Vũ Thị Th (đã chết); Gia đình có 03 anh em, C là con thứ ba; Vợ: Nguyễn Thị S, sinh năm 1973; Con: Vũ Thị Huyền Tr, sinh năm 2000; Tiền sự: Không; Tiền án:

- Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 19/1997/HSST ngày 07/3/1997, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xử phạt Vũ Mạnh C 06 tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản của công dân. C nộp án phí vào tháng 9/2008.

- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 82/2008/HSST ngày 28/4/2008, Tòa án nhân dân thành phố HD xử phạt Vũ Mạnh C 27 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (Thực hiện hành vi phạm tội ngày 25/01/2008). C chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/01/2010, nộp án phí ngày 07/8/2008.

- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 31/2011/HSST ngày 30/9/2011, Tòa án nhân dân huyện TH, tỉnh Hải Dương xử phạt Vũ Mạnh C 07 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (Tái phạm nguy hiểm). C chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/5/2017.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/10/2018, chuyển tạm giam từ ngày 11/10/2018 tại Trại tạm giam Kim Chi, Công an tỉnh Hải Dương đến nay (Có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại:

+ Anh Đặng Trung Th, sinh năm 1985; Cư trú tại: Thôn Chu Đậu, xã Thái Tân, huyện NS, tỉnh Hải Dương.

+ Anh Phạm Văn Th1, sinh năm 1984; Cư trú tại: Số 72 Khu Lộ Cương A, phường TM, thành phố HD.

- Người làm chứng: Nguyễn Quang Th, sinh năm 1975; ĐKHKTT và chỗ ở: thôn Nghĩa Xã, xã Đại Đồng, huyện TK, tỉnh Hải Dương. Hiện đang chấp hành án tại Trại tạm giam Kim Chi, Công an tỉnh Hải Dương

(Đều có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong thời gian từ ngày 02/4/2008 đến ngày 03/4/2008, tại khu vực phường TM, thành phố HD, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu Nguyễn Quang Th và Vũ Mạnh C đã thực hiện 02 hành vi chiếm đoạt tài sản, cụ thể:

Vụ thứ nhất: Tối ngày 01/4/2018, C đến phòng trọ của Th ở xã Ngọc Sơn, huyện TK, tỉnh Hải Dương chơi. Tại đây, Th rủ C đến thành phố HD mục đích nhặt đồ sắt vụn mang về bán lấy tiền chi tiêu, C đồng ý. Khoảng 04h ngày 02/4/2018, Th điều khiển xe môtô (không có biển số) chở C kéo theo 01 xe lôi tự chế đi đến địa bàn phường TM, thành phố HD. Quan sát thấy bên cạnh quán Karaoke KTV Anh em ở số 25/01 Trường Chinh, phường TM, thành phố HD do anh Đặng Trung Th ở xã Thái Tân, huyện NS, tỉnh Hải Dương làm quản lý có 01 lán bếp không có cánh cửa, không có người trông giữ, Th bảo C đi vào trong lán kiểm tra có tài sản gì không. Sau đó, Th và C đi vào trong lán bếp lấy 02 thang nhôm chữ A hiệu Nikita Nhật Bản (01 chiếc dài 06m, 01 chiếc dài 03 m), 01 khung bàn bằng sắt hộp chữ nhật mã kẽm, trọng lượng 15 kg, kích thước (180 x 80 x 100)cm mang ra để lên xe lôi mang về phòng trọ của Th cất giấu.

Vụ thứ hai: Trong khi chiếm đoạt tài sản tại quán Karaoke KTV Anh em vào ngày 02/4/2018, Th quan sát thấy tại vỉa hè trước cửa số nhà 72 khu Lộ Cương A, phường TM của anh Phạm Văn Th1 có để 01 xe lôi tự chế, trọng lượng 300 kg, loại xe 02 bánh hơi, hàn khung sắt hộp chữ nhật, kích thước (4,5 x 1,2 x 0,8)m, bánh xe được khóa bằng xích sắt. Khoảng 04h30’, ngày 03/4/2018, Th điều khiển xe môtô (không có biển số) chở C mang theo 01 kìm cộng lực đi đến nhà anh Th1. Đến nơi, thấy chiếc xe lôi vẫn để tại trước cửa nhà nhưng không có người trông giữ, Th dùng kìm cộng lực cắt đứt xích sắt khóa bánh xe rồi bảo C kéo chiếc xe lôi móc vào phía sau xe môtô còn Th tiếp tục đi bộ vào khu vực lán bếp của quán Karaoke KTV Anh em (gần nhà anh Th1) lấy được 10kg sắt vụn (loại sắt hộp mạ kẽm). Sau đó, C và Th mang tài sản chiếm đoạt được về phòng trọ của Th cất giấu. Qua xem lại camera ghi hình, anh Th1 phát hiện có 02 đối tượng đã cắt đứt xích sắt, chiếm đoạt chiếc xe lôi. Sau khi biết được thông tin, khoảng 15h00’ cùng ngày, anh Th1 đến gặp Th tại quán Karaoke ở xã Ngọc Sơn, Th nói dối là mua chiếc xe lôi của 01 người không rõ tên, tuổi, địa chỉ nên anh Th1 đã trả cho Th số tiền 2.700.000đ (Hai triệu bảy trăm nghìn đồng) rồi mang xe về. Chiếc khung bàn bằng sắt và 10 kg sắt vụn, Th đã bán cho 01 người không quen biết. Số tiền trên, Th đã chi tiêu hết. Đến đầu tháng 5/2018, anh Th1 bán chiếc xe lôi trên cho 01 người không quen biết được số tiền 3.000.000đ (Ba triệu đồng). Đối với 01 chiếc xe lôi tự chế, 01 kìm cộng lực đã được Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an huyện TK, tỉnh Hải Dương thu giữ. Không thu giữ được 02 chiếc thang nhôm chữ A hiệu Nikita Nhật Bản, 01 chiếc xe môtô (không có biển số) của Th. Sau khi phạm tội, C đã bỏ trốn. Đến ngày 08/10/2018, C bị bắt theo Quyết định truy nã số 18 ngày 14/9/2018 của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố HD.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 42 ngày 20/6/2018, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, Ủy ban nhân dân thành phố HD kết luận: Giá trị 01 thang nhôm chữ A dài 06m hiệu Nikita Nhật Bản là 1.170.000đ, 01 thang nhôm chữ A dài 03m hiệu Nikita Nhật Bản là 475.000đ, 01 khung bàn sắt hộp mạ kẽm, trọng lượng 15 kg, kích thước (180 x 80 x 100)cm là 945.000đ, 10 kg sắt vụn (loại sắt hộp mạ kẽm) là 50.000đ, 01 xe lôi tự chế trọng lượng 300 kg, loại xe 02 bánh hơi, hàn khung sắt hộp chữ nhật, kích thước (4,5 x 1,2 x 0,8)m là 3.750.000đ. Tổng trị giá là 6.390.000đ (Sáu triệu ba trăm chín mươi nghìn đồng).

Về vật chứng: 01 đĩa ghi hình lưu hình ảnh Nguyễn Quang Th và Vũ Mạnh C thực hiện hành vi phạm tội lưu hồ sơ vụ án; Đối với 01 xe lôi tự chế, 01 kìm cộng lực Th dùng làm công cụ, phương tiện thực hiện hành vi phạm tội đã được xem xét tại Bản án số 50/2018/HSST ngày 14/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện TK, tỉnh Hải Dương.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Phạm Văn Th1 và anh Đặng Trung Th xác định đã được xem xét tại Bản án số 220/2018/HSST ngày 06/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố HD.

Đối với hành vi của Nguyễn Quang Th đã được xét xử, giải quyết tại Bản án số 220 ngày 06/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương.

Tại Cáo trạng số 249/CT-VKSTPHD ngày 13/11/2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố HD, tỉnh Hải Dương truy tố Vũ Mạnh C về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra.

Người bị hại anh Đặng Trung Th và anh Phạm Văn Th1 có đơn xin xét xử vắng mặt, về trách nhiệm dân sự xác định đã được xem xét tại Bản án số 220/2018/HSST ngày 06/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố HD nên không đề nghị giải quyết, về trách nhiệm hình sự đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đại diện VKSND thành phố HD giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Mạnh C phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Về hình phạt chính: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s, h khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Vũ Mạnh C từ 24 tháng đến 27 tháng tù, thời hạn tính từ ngày 08/10/2018.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.

Về vật chứng: 01 đĩa ghi hình ảnh phạm tội của bị cáo được lưu trong hồ sơ vụ án; xe lôi và kìm cộng lực bị cáo sử dụng làm phương tiện, công cụ phạm tội đã được xem xét tại Bản án số 50/2018/HSST ngảy 14/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện TK, tỉnh Hải Dương. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không phải xem xét.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai của bị cáo Vũ Mạnh C tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người bị hại và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 04h30 phút ngày 02/4/2018, tại lán bếp của quán Karaoke KTV Anh em ở số 25/01 Trường Chinh, phường TM, thành phố HD, lợi dụng không có người trông giữ, Nguyễn Quang Th và Vũ Mạnh C đã chiếm đoạt của anh Đặng Trung Th 01 thang nhôm chữ A dài 06m trị giá 1.170.000đ, 01 thang nhôm chữ A dài 03m trị giá 475.000đ, 01 khung bàn sắt hộp mạ kẽm trị giá 945.000đ. Đến khoảng 05h30 phút ngày 03/4/2018, tại vỉa hè trước cửa số nhà 72 Lộ Cương A, phường TM, Th và C dùng kìm cộng lực cắt dây xích sắt chiếm đoạt 01 xe lôi tự chế trọng lượng 300 kg, loại xe 02 bánh hơi, hàn khung sắt hộp chữ nhật, trị giá 3.750.000đ, rồi tiếp tục đi vào lán bếp của quán Karaoke KTV anh em, chiếm đoạt của anh Th 10 kg sắt vụn, trị giá 50.000đ. Tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 6.390.000đ (Sáu triệu ba trăm chín mươi nghìn đồng).

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vẫn cố ý thực hiện. Tại Bản án số 31/2011/HSST ngày 30/9/2011, Tòa án nhân dân huyện TH, tỉnh Hải Dương xử phạt 07 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tại bản án này bị cáo đã bị xét xử với tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm”, chưa được xóa án tích nay lại thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”. Mặc dù giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 6.390.000 đồng, nhưng do bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố HD là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu tới tình hình trật tự, an ninh tại địa phương. Bản thân bị cáo đã nhiều lần bị Tòa án xét xử nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để rèn luyện, tu dưỡng bản thân mà lại cố ý thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Trong vụ án này, sau khi Nguyễn Quang Th đề xuất, bị cáo Vũ Mạnh C đã tích cực cùng Th thực hiện hành vi phạm tội nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt biết tôn trọng và chấp hành pháp luật.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong thời gian từ 04h30 phút ngày 02/4/2018 đến 05h30 phút ngày 03/4/2018, Vũ Mạnh C cùng Nguyễn Quang Th đã thực hiện 02 hành vi phạm tội (giá trị tài sản chiếm đoạt mỗi lần đều trên 2.000.000đ) nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Phạm tội 02 lần trở lên”, quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội; bị cáo chiếm đoạt tài sản trị giá 6.390.000đ nhưng bị truy tố và xét xử theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự; bị cáo có bố đẻ là ông Vũ Ngọc Th là thương binh nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s,h khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự nhân đạo của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật TTHS; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các vấn đề khác: Đối với hành vi của Nguyễn Quang Th, vật chứng và trách nhiệm dân sự đã được giải quyết tại Bản án số 220/2018/HSST ngày 06/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố HD nên Hội đồng xét xử không xem xét; 01 đĩa ghi hình ảnh phạm tội của bị cáo được lưu trong hồ sơ vụ án là phù hợp pháp luật.

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố HD, Điều tra viên, VKSND thành phố HD, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s,h khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Mạnh C, phạm tội "Trộm cắp tài sản".

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vũ Mạnh C 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tính từ ngày 08/10/2018.

3. Về án phí: Buộc bị cáo Vũ Mạnh C phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ