vanban.org

Bản án 08/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 13/03/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử: Phạt bị cáo Nguyễn Văn T 04 (bốn) năm tù,thời hạn tù tính từ ngày bắt để thi hành án. 2/ Áp dụng: Khoản 1 Điều 47 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung 2017, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Tài - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN PHƯỚC
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2019/HS-ST
Ngày: 13-3-2019.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC, TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán -Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Mẫn.

- Các hội thẩm nhân dân:

+ Bà: Trần Thị Thu Thảo.

+ Bà: Nguyễn Thanh Dũ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Bé Thi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 3 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 03/2019/TLST-HS ngày 29 tháng 01 năm 2019theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2019/QĐXXST-HS ngày 18-02-2019 đối với:

Bị cáo: Nguyễn Văn T, sinh năm 1973; nơi sinh tại Tiền Giang; giới tính: nam; nơi cư trú:Ấp Mỹ Lợi, xã Phước Lập, huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang.; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 07/12; con ông Mai Văn Ngh (đã chết) và bà Nguyễn Thị H; bị cáo có vợ và 02 con; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo tại ngoại.

Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn T: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1973. Nơi cư trú: Ấp Mỹ Lợi, xã Phước Lập, huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang( cómặt).

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T: Ông Nguyễn Trà Duy L – Luật sư Công ty Luật TNHH MTV tư vấn pháp luật MT( cómặt).

Bị hại: Huỳnh Thị M, sinh năm 1973. Nơi cư trú: Ấp Mỹ Lợi, xã Phước Lập, huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang( vắngmặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Nguyễn Thị Ngọc Y, sinh năm 1994. Nơi cư trú: Ấp Mỹ Lợi, xã Phước Lập, huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang( vắngmặt).

- Ngô Văn H, sinh năm 1965. Nơi cư trú: Ấp Mới, xã Long Định, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang( xin vắng mặt).

Người làm chứng:

- Nguyễn Tấn Th, sinh năm 1992. Nơi cư trú: Ấp Mỹ Lợi, xã Phước Lập, huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang( vắngmặt).

- Huỳnh Văn Ch, sinh năm 1986. Nơi cư trú: Ấp Mỹ Lợi, xã Phước Lập, huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang( vắngmặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn T, sinh năm 1973, là chồng của bà Huỳnh Thị M, nhưng do mâu thuẫn tình cảm nên cả hai đã sống ly thân từ năm 2016. Huỳnh Thị M sống chung với con gái (con chung với T) tên Nguyễn Thị Ngọc Y, sinh năm 1994, cách nơi ở của Tài khoảng 04m, cùng ngụ ấp Mỹ Lợi, xã Phước Lập, huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang.

Năm 2017, Nguyễn Văn T bị chấn thương sọ não do tai nạn giao thông, sau khi xuất viện một thời gian, T có biểu hiện rối loạn nhân cách và hành vi. T nghi ngờ chị M có mối quan hệ tình cảm nam nữ với anh Ngô Văn H, sinh năm 1965, ĐKTT: ấp Mới, xã Long Định, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 23/3/2018, T nghi ngờ anh H điều khiển xe 63F1- 7XXX vào nhà chị Y để gặp chị M. T nhặt 01 đoạn gỗ (loại cây dầu gió), dài khoảng 80cm đi đến cửa sau nhà chị Y, T dùng chân đạp nhiều lần vào phần nhôm, dùng đoạn gỗ đập bể phần kính. T nhìn vào trong nhà, T cho rằng chị M mở cửa trước cho anh H chạy nên T cầm đoạn gỗ chạy đuổi theo anh H nhưng không được, T quay trở lại, vứt bỏ đoạn gỗ trước cửa nhà chị Y. Tđi vào nhà, tại phòng khách, T đứng đối diện với chị M và hỏi “ý em sao?”, chị M không trả lời. T tiến đến, dùng tay phải tát liên tiếp 02 cái vào mặt bên phải, mặt bên trái của chị M, làm chị M ngã nằm ngữa xuống sàn nhà bằng xi măng. T tiếp tục dùng tay phải tát liên tiếp thêm 02 cái vào mặt bên phải, mặt bên trái của chị M, làm chị M bất tỉnh. T nhìn thấy máu từ miệng của chị M chảy ra nhưng bỏ đi về nhà nằm.Khoảng 30 phút sau, T nói sự việc đánh chị M cho con ruột Nguyễn Tấn Th biết, sau đó anh Th đưa chị M đi cấp cứu.

Căn cứ Giấy y chứng Bệnh viện Rẫy, Bệnh viện đa khoa trung tâm Tiền Giang, Bệnh viện Chỉnh hình và Phục hồi chức năng Thành phố Hồ Chí Minh, Bệnh viện Răng hàm mặt Thành phố Hồ Chí Minh và Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 214/2018/TgT ngày 19/6/2018 của Trung tâm pháp y Tiền Giang kết luận thương tích của Huỳnh Thị M như sau: 1. Dấu hiệu chính qua giám định: Gãy cung xương hàm dưới phải và góc hàm trái. Tỷ lệ 09% (chín phần trăm); Xẹp thân đốt sống D2 kèm phù tủy xương.Dập tủy ngang D1-D2.Lồi đĩa đệm tầng C4- C5, C5- C6, C6- C7. Đã điều trị, hiện tại yếu 2 tay, liệt 2 chân. Tỷ lệ 62% (sáu mươi hai phần trăm). Kết luận: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 65% (sáu mươi lăm phần trăm) (đã áp dụng phương pháp cộng lùi); Thương tích do vật tầy gây nên.

Kết luận giám định pháp y tâm thần số 446/KL-VPYTW ngày 29/8/2018 của Viện pháp y tâm thần trung ương Biên Hòa kết luận Nguyễn Văn T như sau: về y học: trước, trong, sau khi gây án và hiện nay đương sự bị bệnh rối loạn nhân cách và hành vi thực tổn (F07.8-ICD.10); về năng lực nhận thức và điều khiển hành vi: tại thời điểm gây án và hiện nay đương sự bị hạn chế năng lực nhận thức và điều khiển hành vi

* Vật chứng thu giữ:

Ngày 07/5/2018, anh Nguyễn Tấn Th, sinh năm 1992 (con của T và M) giao nộp cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Tân Phước: 01 (một) cây (gỗ), chiều dài 40,5cm, cân nặng 500gam, chiều rộng 04cm, chiều cao 03cm, hình chữ nhật, màu xám, trắng, vàng nhạt; đã qua sử dụng, cạnh đoạn cây có vết khuyết nham nhỡ, trên thân đoạn cây có dính chất màu đen. Anh Th cho rằng bị cáo đã sử dụng đoạn gỗ này đánh gây thương tích cho Huỳnh Thị M. Tuy nhiên, qua điều tra xác định đây không phải là hung khí bị cáo sử dụng gây thương tích cho chị M, bị cáo sử dụng đoạn gỗ này để đập phá xe 63F1- 7XXX. Viện KSND huyện Tân Phước ra Quyết định chuyển vật chứng này đến Chi cục THADS huyện Tân Phước, chở xử lý theo quy định.

- 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 63F1- 7XXX, nhãn hiệu DREAM II, màu nâu, số máy 0235424, số khung 0235424. Qua điều tra xác định, đây là tài sản của anh Ngô Văn H, sinh năm 1965, ĐKTT: ấp Mới, xã Long Định, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Ngày 23/3/2018, Huỳnh Thị M đến nhà ông H mượn xe để làm phương tiện đi lại, dựng xe trong nhà chị Y, nên bị cáo nghi ngờ chị M có quan hệ tình cảm nam nữ với anh H, sau đó bị cáo đánh gây thương tích cho chị M như nêu trên, và sử dụng đoạn gỗ đập phá xe 63F1- 7XXX. Anh Ngô Văn H có đơn xin nhận tại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại. Ngày 23/5/2018, Cơ quan CSĐT Công an huyện Tân Phước quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại xe nêu trên cho anh H.

* Phần dân sự:

Bị hại Huỳnh Thị M, Nguyễn Thị Ngọc Y bãi nại về phần dân sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại Cáo trạng số 05/CT-VKS-TP ngày 29-01-2019, bị cáo Nguyễn Văn T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước truy tố về tội“Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận về hành vi bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước đã truy tố đối với bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáothành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi; bị cáolà người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức, điều khiển hành vi; bị cáolà con của liệt sĩ; nên xem xét là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Do đó Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 134; điểm q, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo từ 05 năm đến 06 năm tù.

Vật chứng trong vụ án là 01 (một) cây (gỗ), chiều dài 40,5cm, cân nạng 500gam, chiều rộng 04cm, chiều cao 03cm, hình chữ nhật, màu xám, trắng, vàng nhạt; đã qua sử dụng, cạnh đoạn cây có vết khuyết nham nhỡ, trên thân đoạn cây có dính chất màu đen; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu huỷ do không còn giá trị sử dụng.

Về dân sự: Bị hại cóđơn bãi nại và không yêu cầu bị cáo bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước, Kiển sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện là hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai nhận, bị cáo vàbà Huỳnh Thị M là vợ chồng, nhưng do mâu thuẫn tình cảm nên cả hai đã sống ly thân từ năm 2016. Bà M sống chung với con gái là Nguyễn Thị Ngọc Y. Bị cáo nghi ngờ bà M có mối quan hệ tình cảm nam nữ với anh Ngô Văn H. Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 23/3/2018, bị cáo nghi ngờ anh H điều khiển xe 63F1- 7XXX vào nhà chị Y để gặp bà M. Bị cáo nhặt 01 đoạn gỗ (loại cây dầu gió), dài khoảng 80cm đi đến cửa sau nhà chị Y, bị cáo dùng chân đạp nhiều lần vào phần nhôm, dùng đoạn gỗ đập bể phần kính, bị cáo nhìn vào trong nhà nhưng không thấy ông H, bị cáo nghĩ rằng bà M mở cửa trước cho anh H chạy nên bị cáo cầm đoạn gỗ chạy đuổi theo anh H nhưng không được, bị cáo quay trở lại, vứt bỏ đoạn gỗ trước cửa nhà chị Y. Sau đó bị cáo đi vào nhà, tại phòng khách, bị cáo đứng đối diện với bà M và hỏi “ý em sao?”, bà M không trả lời. Bị cáo tiến đến, dùng tay phải tát liên tiếp 02 cái vào mặt bên phải, mặt bên trái của bà M, làm bà M ngã nằm ngữa xuống sàn nhà bằng xi măng. Bị cáo tiếp tục dùng tay phải tát liên tiếp thêm 02 cái vào mặt bên phải, mặt bên trái của bà M, làm bà M bất tỉnh. Bị cáo nhìn thấy máu từ miệng của bàMchảy ra, bị cáo bỏ đi về nhà nằm.Khoảng 30 phút sau, bị cáo nói sự việc đánh bà M cho con ruột Nguyễn Tấn Th biết, sau đó anh Th đưa bà M đi cấp cứu.Xét thấy lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, phù hợp lời khai của bị hại, nhân chứng và hiện trường nơi xảy ra vụ án nên có đủ căn cứ kết luận bị cáo đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”; tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017 nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước truy tố bị cáo về hành vi phạm tội nêu trên là đúng pháp luật.

Xét tính chất mức độ của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác, mặc khác còn làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương. Đây là loại tội phạm mà nhân dân bức xúc và lên án. Bản thân bị cáo chỉ vì ghen tuông mà bị cáo cố ý thực hiện hành vi dùng tay đánh bị hại gây thương tích cho bị hại cũng chính là vợ của bị cáo, sau khi đánh bị hại thấy bị hại chảy máu miệng bị cáo bỏ mặc bị hại, nếu không cứu chữa kịp thời sẽ nguy hiểm hơn; nghiêm trọng là gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ thương tích 65% đến nay chưa đi lại được. Do vậy, đối với bị cáo cần phải xử mức án nghiêm khắc để giáo dục cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội đồng thời giáo dục phòng ngừa chung cho mọi người khác.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Theo kết luận giám định pháp y tâm thần số 446/KL-VPYTW ngày 29/8/2018 của Viện pháp y tâm thần trung ương Biên Hòa kết luận bị cáo như sau: về y học: trước, trong, sau khi gây án và hiện nay đương sự bị bệnh rối loạn nhân cách và hành vi thực tổn (F07.8-ICD.10); về năng lực nhận thức và điều khiển hành vi: tại thời điểm gây án và hiện nay bị cáo bị hạn chế năng lực nhận thức và điều khiển hành vi. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là con của liệt sĩ; đồng thời bị hại cóđơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm q, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Do bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ nêu trên nên áp dụng Điều 54 để xử phạt bị cáo là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại Huỳnh Thị M, Nguyễn Thị Ngọc Y bãi nại về phần dân sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phân tích tính chất mức độ phạm tội, đặc điểm nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo và đề nghị tội danh, điều luật áp dụng là có phần hợp lý như đã phân tích nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

{6} xét ý kiến bào chữa của luật sư tại phiên tòa phù hợp nhận định trên của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về vật chứng:

Vật chứng trong vụ án:

- 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 63F1- 7138, nhãn hiệu DREAM II, màu nâu, số máy 0235424, số khung 0235424. Qua điều tra xác định, đây là tài sản của anh Ngô Văn H, không liên quan đến vụán. Anh Ngô Văn H có đơn xin nhận tại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại. Ngày 23/5/2018, Cơ quan CSĐT Công an huyện Tân Phước quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại xe nêu trên cho anh H làđúng quy định của pháp luật.

- 01 (một) cây (gỗ), chiều dài 40,5cm, cân nặng 500gam, chiều rộng 04cm, chiều cao 03cm, hình chữ nhật, màu xám, trắng, vàng nhạt; đã qua sử dụng, cạnh đoạn cây có vết khuyết nham nhỡ, trên thân đoạn cây có dính chất màu đen; vật chứng trong vụán không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định tại Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1/ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 134; điểm q, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử: Phạt bị cáo Nguyễn Văn T 04 (bốn) năm tù,thời hạn tù tính từ ngày bắt để thi hành án.

2/ Áp dụng: Khoản 1 Điều 47 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung 2017, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cây (gỗ), chiều dài 40,5cm, cân nặng 500gam, chiều rộng 04cm, chiều cao 03cm, hình chữ nhật, màu xám, trắng, vàng nhạt; đã qua sử dụng, cạnh đoạn cây có vết khuyết nham nhỡ, trên thân đoạn cây có dính chất màu đen.

3/ Về án phí:

Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn Tài phải chịu 200.000đồng án phí HSST.

4/ Quyền kháng cáo:

Bị cáo, đại diện bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại chị M, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Y, anh H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ