vanban.org

Bản án 08/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An Tuyên án 17/05/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 90, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 áo sơ mi ngắn tay màu trắng có nhiều chấm đen, hiện đang được bảo quản tại Kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Đàn và có đặc điểm chi tiết t…

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Cao C phải chịu 200.000 đồng (hai t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cưỡng đoạt tài sản - phạm tội cưỡng đoạt tài sản (điều 170 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 90, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 áo sơ mi ngắn tay màu trắng có nhiều chấm đen, hiện đang được bảo quản tại Kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Đàn và có đặc điểm chi tiết t…
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NAM ĐÀN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2019/HS-ST
Ngày 17 - 5 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN – TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lài.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phan Đình Nguyện.

2. Ông Nguyễn Xuân Huế.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Trang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2019/TLST-HS, ngày 18 tháng 4 năm 2019 đối với:

Bị cáo Nguyễn Cao C; sinh ngày 14 tháng 7 năm 1995 tại xã BK, huyện C, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Khối X, thị trấn C, huyện C, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Phi H và bà Nguyễn Thị T; họ và tên vợ: Nguyễn Thị S; có 01 con sinh năm 2017; tiền sự: Ngày 24/10/2018 bị Công an thành phố Vinh đã xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Quyết định số 458/QĐ-XPVPHC; tiền án: Ngày 16/02/2017 bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng; truy thu số tiền 10.800.000 đồng về tội “Đánh bạc”; nhân thân: Ngày 16/11/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An xử phạt 13 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” tại Bản án số 58/2018/HSST; bị cáo kháng cáo bản án. Ngày 14/5/2019 Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đình chỉ xét xử phúc thẩm tại Quyết định số 45/2019/HSPT-QĐ; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/02/2019 cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An; có mặt.

- Bị hại: Chị Đinh Thị V, sinh năm 1973; nơi cư trú: Xóm TP, xã NH, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Trần Văn T, sinh năm 1991; địa chỉ cư trú: Xóm X, xã CX, huyện AS, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.

2. Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1991; địa chỉ cư trú: Khối X, thị trấn C, huyện C, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.

3. Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1976; địa chỉ cư trú: Xóm Y, xã ĐS, huyện AS, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh Nguyễn Kim M, sinh năm 1991; địa chỉ cư trú: Xóm TP, xã NH, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13 giờ ngày 09/02/2019, Nguyễn Cao C điều khiển xe máy Wave Alpha màu trắng BKS 37C1-062.63 đi từ thị trấn C, huyện C xuống thành phố V, trên đường đi thì C vào nhà anh Nguyễn Mộng Đ, địa chỉ: Xóm Y, xã ĐS, huyện AS gửi chiếc xe của mình lại và mượn chiếc xe máy Wave Alpha màu trắng BKS 37C1- 127.77 của nhà anh Đ để tiếp tục đi xuống thành phố V, khi đi đến khu vực xã CS, huyện AS thì C vào nhà anh Trần Văn T, địa chỉ: Xóm X, xã CS, huyện AS để gửi chiếc xe mình đang đi lại và mượn chiếc xe máy Yamaha Exciter màu trắng BKS 37M1-063.22 của anh T để đi xuống thành phố V. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, khi đi đến xóm TP, xã NH, huyện NĐ, Nguyễn Cao C thấy chị Đinh Thị V (SN:1973 trú tại: Xóm TP, xã NH, Huyện NĐ) cùng con gái là Nguyễn Thị Hà G (SN 2015) đang đẩy chiếc xe máy Yamaha Nouvolx 37B1 – 195.01 đi từ trong ngõ ra đường, do xe máy mình đang điều khiển gần hết xăng nên Nguyễn Cao C nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe máy chị V đang sử dụng, Cường điều khiển xe đến, dừng gần chỗ chị Đinh Thị V đang đứng. Lúc này, Nguyễn Cao C xuống xe, lấy 50.000 đồng trong ví đưa cho cháu Nguyễn Thị Trà G và nói với chị V “Chị ơi cho em để chiếc xe của em ở đây” rồi chạy đến chiếc xe máy của chị V mở khoá và vặn ga bỏ chạy. Thấy Nguyễn Cao C lấy xe mình nên chị Đinh Thị V chạy lại cầm vào đuôi xe của mình, kéo lại đồng thời tri hô “Cướp, cướp ...”. Tuy nhiên, C cẫn tiếp tục tăng ga kéo theo chị V một đoạn khoảng 15 mét thì chị V bị ngã, Nguyễn Cao C tiếp tục điều khiển chiếc xe máy vừa chiếm đoạt được của chị V đi đến thành phố V.

Bản Kết luận định giá số 174 ngày 25/02/2019 của Hội đồng định giá tài sản huyện Nam Đàn đã Kết luận: Chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Nouvolx 37B1 – 195.01 mà Nguyễn Cao C chiếm đoạt có giá trị là 6.500.000 đồng.

Bản cáo trạng số 14/CT-VKS-HS, ngày 18/4/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An truy tố Nguyễn Cao C về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn giữ quyền công tố, luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Nguyễn Cao C phạm tội “Cướp giật tài sản”. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Cao C mức án từ 24 đến 30 tháng tù. Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt 13 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” tại Bản án số 58/2018/HSST, ngày 16/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, buộc bị cáo phải chấp hành là từ 37 đến 43 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20 tháng 02 năm 2019. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 áo sơ mi ngắn tay màu trắng có nhiều chấm đen. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt, không có yêu cầu gì về dân sự, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Người làm chứng vắng mặt không có lý do.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo gửi lời xin lỗi đến gia đình bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nam Đàn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa bị hại chị Đinh Thị V; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Nguyễn Thị H, chị Nguyễn Thị V vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Trần Văn T vắng mặt, hiện tại đi làm ăn xa, không có mặt tại địa phương và người làm chứng vắng mặt không có lý do. Xét thấy những người này đã có lời khai đầy đủ tại hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của các đương sự, người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự.

. Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Cao C đã khai nhận hành vi của mình phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 16 giờ, ngày 09/2/2019 tại xóm TP, xã NH, huyện NĐ, Nguyễn Cao C thấy chị Đinh Thị V cùng con gái đứng trước cổng cùng xe máy nhãn hiệu YAMAHA Nouvolx BKS 37B1-195.01 nên C xuống xe lấy 50.000 đồng trong ví đưa cho cháu Nguyễn Thị Trà G và nói với chị V “Chị ơi cho em để chiếc xe của em ở đây”. Lợi dụng khi chị V đang lại ôm con thì C đã chạy đến chiếc xe máy của chị V mở khoá và vặn ga bỏ chạy mặc cho chị V chạy theo kéo chiếc xe máy lại. Chị V níu theo xe của C được khoảng 15 mét thì bị ngã và C đi xe xuống thành phố V.

Như vậy Nguyễn Cao C đã có hành vi đưa tiền cho con gái của bị hại để nhanh chóng tiếp cận tài sản, công khai và nhanh chóng chiếm đoạt tài sản là chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA Nouvolx BKS 37B1-195.01 trị giá 6.500.000 đồng (Sáu triệu năm trăm nghìn đồng) của anh Nguyễn Cao T (ủy quyền cho chị Đinh Thị V được quyền định đoạt) và nhanh chóng tẩu thoát để tránh sự phản kháng của bị hại. Hành vi của Nguyễn Cao C đủ yếu tố cấu thành tội "Cướp giật tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự. Bản Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

. Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Đây là vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm mất trật tự trị an trên địa bàn, xâm phạm quyền sở hữu tài sản và có thể gây ảnh hưởng đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo đã bị kết án tại bản án số 24/2017/HSPT, ngày 16/02/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An chưa được xóa án tích mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân xấu: Có 01 tiền sự về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Quyết định số 458/QĐ-XPVPHC, ngày 24/10/2018 của Công an thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Ngày 16/11/2018 Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An đã xử phạt Nguyễn Cao C 13 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, bị cáo kháng cáo bản án. Ngày 14/5/2019 Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đình chỉ xét xử phúc thẩm tại Quyết định số 45/2019/HSPT-QĐ và bản án số 58/2018/HSST, ngày 16/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ban hành quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm. Vì vậy cần xử lý nghiêm cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian và áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành. Tuy nhiên tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đầu thú tại Cơ quan Điều tra, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo.

. Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 171 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng”. Xét bị cáo lao động tự do, không có tài sản riêng gì nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Đinh Thị V đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì thêm về bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Trong vụ án có anh Trần Văn T là người cho Nguyễn Cao C mượn xe máy Yamaha Exciter màu trắng BKS 37M1-063.22, nhưng do anh T không biết mục đích C mượn xe là để đi Cướp giật tài sản nên hành vi của anh Trần Văn T không cấu thành tội phạm. Anh T đã nhận lại xe và không có yêu cầu gì thêm về dân sự đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với chiếc xe máy Wave Alpha màu trắng BKS 37C1-062.63 của chị Nguyễn Thị Phương T (ủy quyền cho chị Nguyễn Thị H quản lý, sử dụng) và chiếc xe máy Wave Alpha màu trắng BKS 37C1- 127.77 của chị Nguyễn Thị V mà bị cáo sử dụng đi lại từ thị trấn C đến xã ĐS, huyện AS để mượn xe anh T đi thực hiện hành vi cướp giật tài sản. Hiện tại chị H và chị V đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về xử lý vật chứng: Cơ quan Điều tra thu giữ: 01 chiếc xe máy Yamaha Exciter BKS 37M1 - 063.22; 01 chiếc xe máy Yamaha Nouvolx 37B1 – 195.01. Cơ quan điều tra Công an huyện Nam Đàn đã trả lại các tài sản trên cho chủ sở hữu là anh Trần Văn T và chị Đinh Thị V nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với 01 chiếc áo sơ mi màu trắng có chấm đen cộc tay của Nguyễn Cao C mượn của anh Trần Văn T, anh T không yêu cầu nhận lại áo và bị cáo thừa nhận áo đã cũ, giá trị sử dụng không nhiều, bị cáo không có yêu cầu gì nên tuyên tịch thu tiêu hủy.

.Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 56 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Cao C 02 (Hai) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Tổng hợp hình phạt 13 (Mười ba) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” tại Bản án số 58/2018/HSST, ngày 16/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 03 (Ba) năm 01 (Một) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20 tháng 02 năm 2019, được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 08/9/2018 đến ngày 14/9/2018.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 90, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 áo sơ mi ngắn tay màu trắng có nhiều chấm đen, hiện đang được bảo quản tại Kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Đàn và có đặc điểm chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 07 tháng 5 năm 2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nam Đàn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Cao C phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ