vanban.org

Bản án 08/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 15/05/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Lƣơng Văn L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lê Hùng P, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Văn P, Nguyễn Văn H vắng mặt nên tách thành vụ kiện dân sự khác khi có yêu cầu. * Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Văn L "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Lƣơng Văn L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 174 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAM LÂM
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2019/HS-ST
Ngày 15 tháng 5 năm 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LÂM, TỈNH KHÁNH HOÀ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông LÊ HOÀI TÂM.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà NGUYỄN THỊ KIM LIÊN

Bà MAI THỊ THU TRANG

- Thư ký phiên tòa: Bà TRẦN THỊ HUỆ – Thƣ ký Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông TRẦN DANH CẢNH – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05 /2019/TLST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo:

LƢƠNG VĂN L (Tên gọi khác: K, Lƣơng Công N) - sinh năm 1997 tại Phú Yên; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lƣơng Công L – sinh năm: 1959 và bà Nguyễn Thị H – sinh năm: 1960 (đã chết); vợ, con: chƣa có; tiền án: ngày 04/8/2016 bị Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang xử phạt 01 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, chấp hành án xong ngày 18/4/2017; tiền sự: không; nhân thân: ngày 28/3/2019 bị Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Nha Trang trong vụ án khác. “có mặt”

- Bị hại: Lê Hùng P - sinh năm: 1994; nơi cƣ trú: thôn T, xã S, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. “vắng mặt”

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Lê Văn P – sinh năm: 1966; nơi cƣ trú: thôn T, xã St, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. “vắng mặt”

2. Nguyễn Văn H – sinh năm: 1995; nơi cƣ trú: thôn M, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. “vắng mặt”

- Người làm chứng:

1. Võ Đông T.

2. Lê Quốc Đ.

3. Thái Quốc N.

4. Nguyễn Ngọc T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Tối ngày 09/8/2018, Lƣơng Văn L, Võ Đông T, Lê Hùng P và Nguyễn Quốc Đ sử dụng ma túy tại nhà T thuộc thôn T, xã S, huyện C thì L nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô 79L1-3743 của P (xe do ông Lê Văn P đứng tên sở hữu) nên hỏi mƣợn xe đi công việc nhƣng P không đồng ý.

Đến khoảng 11 giờ ngày 10/8/2018, L, T, Đ ngồi chơi tại nhà T thì P chạy xe mô tô 79L1-3743 đến. Do có ý định chiếm đoạt xe mô tô từ trƣớc nên L tiếp tục hỏi mƣợn xe của P đi công việc và đƣợc P đồng ý.

Sau khi mƣợn đƣợc xe của P, L rủ Đ đi cùng vào C. Trên đƣờng đi, L ghé vào một quán nƣớc bên đƣờng Quốc lộ 1A, tại đây L ra chỗ vắng gọi điện cho Nguyễn Ngọc T nhờ ngƣời nhận cầm thế xe. Nghe vậy, T gọi điện cho Nguyễn Văn H và hẹn gặp H, L tại quán sinh tố gần khu vực bến xe Cam Ranh. L để Đ ở lại quán nƣớc, còn L điều khiển xe đến nơi hẹn thì gặp T, H và Thái Quốc N. Tại đây, L, H thỏa thuận giá cầm thế xe mô tô 79L1-3743 là 2.500.000 đồng. Sau khi thỏa thuận xong, L quay lại chở Đ đến quán sinh tố. Sau đó, L điều khiển xe mô tô 79L1-3743 đi theo H lấy tiền. Sau khi giao xe và nhận tiền, H chở L quay lại quán sinh tố chở thêm N đi thuê phòng tại khách sạn Thành Mỹ thuộc thành phố Cam Ranh. Tại đây, L đƣa cho H, N 400.000 đồng để mua ma túy về sử dụng, đồng thời gọi điện cho T chở Đ đến khách sạn. H, N đã đến khu vực phƣờng C, thành phố C mua ma túy của một ngƣời không rõ tên, địa chỉ. Sau khi sử dụng ma túy, L, Đ đón taxi về lại Cam Lâm.

Số tiền có đƣợc từ việc thế chấp xe, L dùng trả nợ cho N 500.000 đồng, trả tiền thuê khách sạn 200.000 đồng, mua ma túy 400.000 đồng và trả tiền taxi 500.000 đồng, còn lại L tiêu xài cá nhân.

Đến ngày 14/8/2018, không thấy L quay lại trả xe nên Lê Hùng P làm đơn trình báo Công an.

Ngày 30/11/2018, Hội đồng định giá thƣờng xuyên tài sản trong tố tụng hình sự huyện Cam Lâm kết luận xe mô tô nhãn hiệu Wave biển số 79L1-3743 trị giá 3.425.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 04/CT-VKS ngày 18/02/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố bị cáo Lƣơng Văn L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lâm vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lƣơng Văn L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo từ 18 tháng đến 24 tháng tù và tổng hợp với hình phạt của Bản án số 58/2019/HS-ST ngày 28/3/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị hại Lê Hùng P, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Văn P, Nguyễn Văn H vắng mặt, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xét tách thành vụ kiện dân sự khác khi có yêu cầu.

- Bị cáo Lƣơng Văn L khai nhận hành vi phạm tội đúng nhƣ nội dung bản cáo trạng số 04/CT-VKS ngày 18/02/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lâm và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về tố tụng: Bị hại Lê Hùng P, những ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Văn P, Nguyễn Văn H, những ngƣời làm chứng Võ Đông T, Lê Quốc Đ, Thái Quốc N, Nguyễn Ngọc T đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ ba nhƣng vắng mặt, Hội đồng xét xử xét thấy những ngƣời này đã có lời khai tại cơ quan điều tra và sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án nên căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định vẫn tiến hành xét xử.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cam Lâm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lâm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ngƣời nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo Lƣơng Văn L đã khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp lời khai bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ngƣời làm chứng và các chứng cứ tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ để kết luận: Do có ý định chiếm đoạt xe mô tô của anh Lê Hùng P từ trƣớc nên khoảng 11 giờ ngày 10/8/2018, tại thôn T, xã S, huyện C, Lƣơng Văn L đã mƣợn xe mô tô biển số 79L1-3743 của Lê Hùng P trị giá 3.425.000 đồng để mang đi cầm thế cho Nguyễn Văn H với số tiền 2.500.000 đồng. Hành vi dùng thủ đoạn mƣợn xe mô tô để mang đi cầm thế của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2017. Nhƣ vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lâm truy tố bị cáo theo Cáo trạng số 04/CT-VKSCL ngày 18/02/2018 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Năm 2016, bị cáo đã bị kết án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chƣa đƣợc xóa án tích, lẽ ra bị cáo phải biết sửa chữa bản thân, chí thú làm ăn nhƣng bị cáo xem thƣờng pháp luật, tiếp tục phạm tội. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thuộc trƣờng hợp tái phạm. Ngoài ra, bị cáo có nhân thân xấu, vào ngày 28/3/2019 đã bị Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu của công dân là khách thể đƣợc pháp luật hình sự bảo vệ, đồng thời gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng nên cần xử lý bị cáo với mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, xét thấy trong quá trình điều tra truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo thấy đƣợc sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo thành ngƣời có ích cho xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị hại Lê Hùng P, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Văn P, Nguyễn Văn H vắng mặt nên Hội đồng xét xử xét tách thành vụ kiện dân sự khác khi có yêu cầu.

Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án là xe mô tô 79L1-3743, số khung HC09033Y686487, số máy HC09E-0686564, đã đƣợc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cam Lâm trả lại cho bị hại Lê Hùng P theo Quyết định xử lý vật chứng số 02 ngày 24/01/2019. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Xét hành vi của Lê Quốc Đ: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xác định mặc dù Đ đi cùng Lƣơng Văn L nhƣng Đ không biết mục đích L mƣợn xe của P, không biết L thế chấp xe và không biết số tiền mua ma túy sử dụng tại khách sạn Thành Mỹ là do phạm tội mà có. Vì vậy, Lê Quốc Đ không đồng phạm với L về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là có căn cứ. Do đó, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Xét hành vi của Nguyễn Văn H, Nguyễn Ngọc T, Thái Quốc N: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xác định H nhận cầm thế xe mô tô biển số 79L1-3743 và cùng Lƣơng Văn L, Nguyễn Ngọc T, Thái Quốc N sử dụng ma túy đƣợc mua từ số tiền cầm thế xe nhƣng H, T, N không biết nguồn gốc xe và số tiền mua ma túy sử dụng là do phạm tội mà có. Vì vậy, Nguyễn Văn H, Nguyễn Ngọc T, Thái Quốc N không đồng phạm với L về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có là có căn cứ. Do đó, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về án phí: Bị cáo Lƣơng Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Xử phạt: Bị cáo Lƣơng Văn L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tổng hợp với hình phạt 01 năm 06 tháng tù của Bản án số 58/2019/HS-ST ngày 28/3/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/10/2018.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lê Hùng P, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Văn P, Nguyễn Văn H vắng mặt nên tách thành vụ kiện dân sự khác khi có yêu cầu.

* Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Lƣơng Văn L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Lƣơng Văn L đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; bị hại Lê Hùng P, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Văn P, Nguyễn Văn H đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc đƣợc tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ