- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn H - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? Về Điều luật áp dụng: Căn cứ khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự năm Kết quả biểu; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự Tịch thu tiêu hủy
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2019/HS-ST Ngày: 26 - 03 - 2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Tính
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Hành
Nơi công tác: Cán bộ hưu trí huyện C
Ông Nguyễn Văn Mầm
Nơi công tác: Cán bộ hưu trí huyện C.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Vũ là Thư ký Toà án nhân dân huyện C.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C tham gia phiên tòa:
Bà Từ Thanh Thùy - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 03 năm 2019 tại Tòa án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 06/2019/TLST-HS, ngày 16 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2019/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Văn H, sinh năm 1989 tại huyện C, tỉnh Cà Mau; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: ấp Cái Rắn A, xã Phú Hưng, huyện C, tỉnh Cà Mau, nghề nghiệp: Làm vuông; Trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Văn Hận (1963) và bà Trần Thị Hồng (1968); Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08/01/2019 đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Anh Huỳnh Quốc T, sinh năm 1980 (Có mặt)
Địa chỉ: ấp Cái Rắn A, xã Phú Hưng, huyện C, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 23 giờ ngày 20/6/2018 khi anh Huỳnh Quốc T đang nằm ngủ trên võng, lúc này trong nhà ông T có Cao Lam Linh, Cao Diệu Hiền, Nguyễn Văn Tiến,Trần Đình Thủ đang ngồi nhậu và xem bóng đá. Lúc này Lê Minh H và Lê Văn Út (cả hai đều đã có rượu) đứng ngoài lộ hỏi vào có Gil nhậu trong nhà không, thì Huỳnh Quốc Tiến đi ra trả lời là không có; H hỏi xin số điện thoại của Gil, Tiến nói không có số điện thoại của Gil. Khi Tiến đang nói chuyện với H thì Thủ đi ra nói chuyện với Út, do các bên nói chuyện lớn tiếng nên ông T thức dậy đi ra nói: nhà này của tao, tụi mày làm gì la um sùm vậy ? H nói: nhà của ông hả, đánh chết mẹ ông luôn. Dứt lời, H xông vào dùng tay đánh ông T làm T té xuống đất trước sân nhà thì được mọi người can ngăn, H và Út bỏ đi ra lộ, vừa đi H vừa nói: 15 phút nữa tao quay lại. Lúc này Lê Văn Hưởng và Lê Văn Phưởng chạy xe đến, Phưởng đứng ngoài lộ, Hưởng cùng với H và Út quay trở vào nhà ông T. H đứng ngoài sân lấy cục gạch ống trước cửa nhà ông T chọi vào trong nhà ông T nhưng không trúng ai, H tiếp tục lấy cục gạch ống khác cầm trên tay xông vào nhà dùng cục gạch đánh trúng một cái vào đầu ông T làm ông T té xuống nền nhà, tiếp đó H dùng chân giẫm đạp nhiều cái lên chân trái của ông T. Cùng lúc này Hưởng và Út cầm gạch ống xông vào nhà T nhưng được mọi người can ngăn nên Hưởng và Út không đánh được ai.
Tiếp tục H chụp lấy hai vỏ chai bia sài gòn (loại chai thủy tinh) đập bể rồi cầm hai cổ chai bia định đâm ông T thì được Huỳnh Quốc Tiến can ngăn làm rớt hai cổ chai bia xuống đất, H chạy ra sân chụp hai vỏ chai bia khác đập bể tiếp tục chạy vào đánh ông T thì anh Nguyễn Văn Tiến chụp tay của H giơ lên và nói máu chảy quá rồi kìa thì H bỏ hai vỏ chai bia xuống, rồi ra xe Hưởng chở về nhà. Sau khi sự việc xảy ra ông T bị rách da đầu và đau chân trái được gia đình đưa đi điều trị tại Bệnh viện tỉnh Cà Mau sau đó chuyển lên Bệnh viện Chợ Rẫy điều trị.
Tại kết luận giám định pháp y về thương tích số 225/TgT, ngày 04/10/2018 và Công văn số 104/CV-TTPY ngày 10/12/2018 của Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh Cà Mau, kết luận:
Dấu hiệu chính qua giám định:
- 01 vết sẹo thái dương trái, kích thước 3cm x 0,3cm. Tỷ lệ 3%;
- 01 vết sẹo phẩu thuật 1/3 dưới mặt trước đùi trái, kích thước: 0,5cm x 0,5cm. Tỷ lệ 0,5%;
- 03 vết sẹo phẩu thuật mặt trước gối trái, kích thước 1: 1,5cm x 0,7cm. Tỷ lệ 0,5%; kích thước 2: 1,2cm x 0,5cm. Tỷ lệ 0,5%; kích thước 3: 1,2cm x 0,5cm. Tỷ lệ 0,5%;
- Đứt dây chằng chéo trước đã phẩu thuật, hiện tại phục hồi tốt. Tỷ lệ 15%;
- Đứt dây chằng bên trong gối trái (đứt không hoàn toàn), hiện tại phục hồi tốt. Tỷ lệ 6%.
Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định không có tỷ lệ các vết sẹo phẩu thuật là 22%.
Tại phiên tòa bị cáo trình bày: Khoảng 23 giờ ngày 20/6/2018 do bị cáo có rượi bia trong người nên đã có hành vi đã dùng cục gạch ống đánh vào đầu gây thương tích và dùng chân giẫm đạp lên chân của ông T làm đứt dây chằng chân trái. Bị cáo thống nhất với tổng tỷ lệ thương tích của ông T là 22%. Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả tại Chi cục thi hành án dân sự huyện C số tiền là 4.000.000 đồng. Hiện bị cáo đồng ý tiếp tục bồi thường cho ông T theo quy định pháp luật.
Tại các lời khai tại Tòa án, anh Huỳnh Quốc T(Bị hại) trình bày: Vào khoảng 23 giờ ngày 20/6/2018 anh Lê Văn H đã dùng cục gạch ống đánh vào đầu gây thương tích và dùng chân giẫm đạp lên chân của ông làm đứt dây chằng chân trái với tổng tỷ lệ thương tích là 22%. Sau khi sự việc xảy ra, ông điều trị tại Bệnh viện Cà Mau và Bệnh viện Chợ Rẫy. Nay ông yêu cầu H bồi thường chi phí điều trị, mất thu nhập, tiền tái khám trong thời gian tới, tiền sửa tài sản bị hư tổng số tiền 145.176.000 đồng.
Bản cáo trạng số: 04/CT-VKS, ngày 14 tháng 01 năm 2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện C truy tố bị cáo Lê Văn H về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C cho rằng: Bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự, thực hiện hành vi cố ý gây thương tích làm tổn hại sức khỏe của người bị hại theo kết luận giám định là 22%, vi phạm khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C đề nghị: Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 134, Điều 46, 47, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 585, 590 Bộ luật dân sự; Điều 106, 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH12 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”, xử phạt bị cáo từ 09 (chín) tháng đến 01 (Một) năm tù.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 cây dao cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại (dao bành tô) dài 35cm, lưỡi dao dài 22cm; 01 cái ly thủy tinh bị bể kích thước 10cm x 8cm; 01 mãnh tô sành bị vỡ kích thước 15cm x 8cm; 05 đầu vỏ chai bia Sài Gòn (loại chai thủy tinh) bị bể; 04 viên gạch (loại gạch ống) bị bể.
Về trách nhiệm dân sự buộc bị cáo bồi thường cho bị hại tổng số tiền là 107.968.000 đồng.
Bị cáo nói lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án, xin giảm nhẹ hình phạt do bị cáo đã ý thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng trong vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét lời khai tại phiên tòa của bị cáo, phù hợp với lời khai của bị hại và những người tham gia tố tụng trong vụ án, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án.
Xét bị cáo đã có hành vi cố ý gây thương tích cho người bị hại, cụ thể bị cáo đã có hành vi đánh vào đầu ông T và dùng chân đạp nhiều cái lên chân ông T làm đứt dây chằn, tổng thương tích 22%. Do mâu thuẫn cá nhân mà bị cáo đã có hành vi gây ra thương tích tổn hại sức khỏe cho người bị hại. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện C truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ pháp luật, đúng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Trước, trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo nhận thức bình thường, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, bị cáo biết rõ hành vi gây thương tích của người khác là vi phạm pháp luật và bị pháp luật nghiêm cấm nhưng chỉ vì mâu thuẫn cá nhân mà bị cáo đã gây ra thương tích cho người khác. Hành vi của bị cáo không chỉ vi phạm pháp luật hình sự mà còn gây mất an ninh, trật tự an toàn xã hội, cần phải xử lý nghiêm để răn đe cho bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Xét bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo đã khắc phục một phần hậu quả cho người bị hại; Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi. Đây là những tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự: Hiện bị hại yêu cầu yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí điều trị, mất thu nhập, tiền tái khám trong thời gian tới, tiền sửa tài sản bị hư tổng số tiền 145.176.000 đồng. Tại phiên tòa, anh T yêu cầu bị cáo bồi thường các khoản với số tiền 107.968.000 đồng. Bị cáo H đồng ý bồi thường cho anh T số tiền 107.968.000 đồng nhưng phải đối trừ số tiền bị cáo đã nộp tiền khắc phục hậu quả tại Chi cục thi hành án Dân sự huyện C là 4.000.000 đồng. Bị cáo H tiếp tục bồi thường cho anh T số tiền là 103.968.000 đồng đã được anh T đồng ý. Xét thấy, đây là ý chí tự nguyện của bị cáo, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vật chứng vụ án: Đối với các vật chứng thu được tại hiện trường liên quan đến vụ án gồm 01 cây dao cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại (dao bành tô) dài 35cm, lưỡi dao dài 22cm; 01 cái ly thủy tinh bị bể kích thước 10cm x 8cm; 01 mãnh tô sành bị vỡ kích thước 15cm x 8cm; 05 đầu vỏ chai bia Sài Gòn (loại chai thủy tinh) bị bể; 04 viên gạch (loại gạch ống) bị bể. Hội đồng xét xử xét thấy không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
Đối với Lê Văn Hưởng, Lê Văn Út có xông vào nhà đánh ông T nhưng được mọi người can ngăn và không gây thương tích cho ai, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không truy cứu trách nhiệm hình sự là phù hợp. Đối với Huỳnh Quốc Tiến con ông T trong lúc can ngăn H đánh ông T bị thương ở tay nhưng Tiến không yêu cầu xử lý, Cơ quan Cảnh sát điều tra không đề cập trong vụ án này là phù hợp.
Đối với tài sản của ông T trong lúc đánh nhau làm hư hỏng: Nồi cơm điện bị móp, chiếc xe mô tô biển số kiểm soát 69L1-7744 bị bể ở mặt nạ và ốp sườn bên phải, Cơ quan Cảnh sát điều tra không chứng minh được ai là người gây ra nên tách ra tiếp tục điều tra xử lý sau là phù hợp.
Án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Về Điều luật áp dụng: Căn cứ khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bị cáo Lê Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Văn H 01 (Một) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 585, 590 Bộ luật dân sự; Điều 46, 47 Bộ luật hình sự năm 2015.
Buộc bị cáo Lê Văn H phải có trách nhiệm bồi thường cho anh Huỳnh Quốc T số tiền 107.968.000 đồng (Một trăm lẽ bảy triệu chín trăm sáu mươi tám nghìn đồng), đã qua bị cáo H đã nộp tiền khắc phục hậu quả là 4.000.000 đồng, được đối trừ giai đoạn thi hành án.
Trong trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả khoản tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất tương ứng với thời gian chậm trả được quy định tại Điều 357, 468 Bộ luật dân sự.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 106, 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy: 01 cây dao cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại (dao bành tô) dài 35cm, lưỡi dao dài 22cm; 01 cái ly thủy tinh bị bể kích thước 10cm x 8cm; 01 mãnh tô sành bị vỡ kích thước 15cm x 8cm; 05 đầu vỏ chai bia Sài Gòn (loại chai thủy tinh) bị bể; 04 viên gạch (loại gạch ống) bị bể. Vật chứng hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện C quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16 tháng 01 năm 2019.
Về án phí: Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH12 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lê Văn H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 5.198.000 đồng án phí dân sự có giá ngạch.
Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện C; - Công an huyện C; - CC-THADS huyện C; - Bị cáo; Bị hại; - Lưu HS-VP. TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƢỚC TỈNH CÀ MAU Vào hồi 08 giờ 30 phút ngày 26 tháng 3 năm 2019 Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Cà Mau - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Tính Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hành Nơi công tác: Cán bộ hưu trí huyện C Ông Nguyễn Văn Mầm Nơi công tác: Cán bộ hưu trí huyện C. 16 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo: Bị Lê Văn H, sinh năm 1989 tại huyện C, tỉnh Cà Mau. Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƢ SAU: 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bị cáo Lê Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”. 2. Về Điều luật áp dụng: 2015. 3. Về mức hình phạt: Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Văn H 01 (Một) năm tù. 4. Về các vấn đề khác: 47 Bộ luật hình sự năm 2015. T số tiền 107.968.000 đồng (Một trăm lẽ bảy triệu chín trăm sáu mươi tám nghìn đồng), đã qua bị cáo H đã nộp tiền khắc phục hậu quả là 4.000.000 đồng, được đối trừ giai đoạn thi hành án. tháng còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất tương ứng với thời gian chậm trả được quy định tại Điều 357, 468 Bộ luật dân sự. năm 2015. dài 35cm, lưỡi dao dài 22cm; 01 cái ly thủy tinh bị bể kích thước 10cm x 8cm; 01 mãnh tô sành bị vỡ kích thước 15cm x 8cm; 05 đầu vỏ chai bia Sài Gòn (loại chai thủy tinh) bị bể; 04 viên gạch (loại gạch ống) bị bể. Vật chứng hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện C quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16 tháng 01 năm 2019. ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án. 5.198.000 đồng án phí dân sự có giá ngạch. hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nghị án kết thúc vào hồi 10 giờ 30 phút, ngày 26 tháng 3 năm 2018. cùng nghe và ký tên. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Mầm Nguyễn Văn Hành | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Minh Tính CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc BIÊN BẢN NGHỊ ÁN Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 06/2019/TLST-HS, ngày Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh Kết quả biểu quyết: 3/3 Căn cứ khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm Kết quả biểu quyết: 3/3 Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án. Kết quả biểu quyết: 3/3 Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 585, 590 Bộ luật dân sự; Điều 46, Buộc bị cáo Lê Văn H phải có trách nhiệm bồi thường cho anh Huỳnh Quốc Trong trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả khoản tiền nêu trên thì hàng Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 106, 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự Tịch thu tiêu hủy: 01 cây dao cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại (dao bành tô) Về án phí: Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH12 Bị cáo Lê Văn H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật bị cáo có quyền tự nguyện thi hành Kết quả biểu quyết: 3/3 Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử Huỳnh Minh Tính |