vanban.org

Bản án 08/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử cho anh Hầu A S được ly hôn chị Vàng Thị S.

Về con: Anh Hầu A S trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Hầu Thị Th, sinh ngày 20/8/2009 và cháu Hầu Seo B, sinh ngày 23/8/2010 cho đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Hầu A S không yêu cầu chị Vàng Thị S cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Chị Vàng Thị S có quyền, nghĩa vụ thăm nom … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Hầu A D ly hôn chị S"
  • Tòa quyết gì? Xử cho anh Hầu A S được ly hôn chị Vàng Thị S.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁT XÁT
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08 /2019/HNGĐ – ST
Ngày 14 tháng 11 năm 2019
“ V/v Ly hôn,tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁT XÁT, TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Duy Chiến.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà: Phàng Thị Dở;

2. Ông Nguyễn Trung Dong;

- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thu Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 109/2019/TLST - HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2019 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2019/QĐXXST - HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2019; Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2019/QĐST – HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Hầu A S.

Địa chỉ: Thôn Ph xã Y , huyện B, tỉnh Lào Cai.

Có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Chị Vàng Thị S.

Địa chỉ: Thôn Ph, xã Y , huyện B, tỉnh Lào Cai.

Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 06/8/2019 và trong quá trình tòa án giải quyết, nguyên đơn anh Hầu A S trình bày:

Anh và chị Vàng Thị S kết hôn với nhau có đăng ký ngày 03/4/2008, tại Uỷ ban nhân dân xã Y, huyện B, tỉnh Lào Cai. Sau ngày cưới vợ chồng sống hạnh phúc, đến đầu năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, quan điểm vợ chồng không thống nhất. Thực tế vợ chồng đã sống ly thân từ đó không quan tâm đến nhau. Đến nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không khắc phục được, anh đề nghị toà án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Vàng Thị S.

Về con: Trong thời gian chung sống vợ chồng anh sinh được hai con, cháu thứ nhất Hầu Thị Th, sinh ngày 20/8/2009, cháu thứ hai Hầu Seo B, sinh ngày 23/8/2010. Từ khi vợ chồng sống ly thân thì hai cháu vẫn đang ở với anh. Do chị Vàng Thị S hay đi làm ăn xa nhà, thỉnh thoảng mới về, không có điều kiện chăm sóc các con, anh xin nuôi cả hai cháu, không yêu cầu chị Sử cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn chị Vàng Thị S, do thường xuyên vắng mặt tại nơi cư trú, vì vậy Tòa án không tống đạt trực tiếp được các văn bản tố tụng, đã niêm yết công khai tại nơi cư trú theo qui định của pháp luật nhưng chị Sử không có văn bản trả lời và không đến Toà án.

Đối với vụ án này Tòa án không hòa giải được vì chị Sử không đến, không có lý do.

Tại đơn xin xét xử vắng mặt anh Hầu A S vẫn giữ nguyên quan điểm như trong đơn khởi kiện và các bản khai.

Tại phiên toà hôm nay Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát có quan điểm: Thẩm phán, hội đồng xét xử giải quyết vụ án dân sự tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, đảm bảo việc giải quyết vụ án dân sự kịp thời, đúng pháp luật, thu thập chứng cứ đúng theo qui định pháp luật. Thư ký phiên toà và những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, đề nghị giải quyết theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho anh Hầu A S được ly hôn chị Vàng Thị S. Về con giao cả hai cháu Hầu Thị Thủy, sinh ngày 20/8/2009, cháu thứ hai Hầu Seo Bình, sinh ngày 23/8/2010 cho anh Sinh nuôi dưỡng cho đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi, chị Vàng Thị S không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Ngoài ra còn tuyên án phí, quyền kháng cáo cho các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Anh Hầu A S khởi kiện chị Vàng Thị S về việc ly hôn, đây là tranh chấp về Hôn nhân và Gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, chị Vàng Thị S có địa chỉ tại huyện Bát xát, tỉnh Lào Cai, Tòa án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai thụ lý vụ án để giải quyết là phù hợp với khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Tại phiên Tòa hôm nay anh Hầu A S có đơn xin xét xử vắng mặt, chị Vàng Thị S vắng mặt lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ. Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, b khoản 2 điều 227; điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Hầu A S và chị Vàng Thị S.

Anh Hầu A S và chị Vàng Thị S kết hôn với nhau có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã Y Tý, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai, theo giấy chứng nhận kết hôn số 07, Quyển số 01, ngày 03 tháng 4 năm 2008 trên cơ sở tự nguyện, như vậy hôn nhân này là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ và công nhận.

Xét đối với yêu cầu của nguyên đơn:

Anh Hầu A S và chị Vàng Thị S sau khi kết hôn, chung sống với nhau đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp, quan điểm không thống nhất, thực tế thì vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2014 không quan tâm đến nhau, chính quyền địa phương cũng xác nhận việc vợ chồng anh Hầu A S chung sống với nhau có mâu thuẫn như ở trên. Xét thấy mâu thuẫn của anh Hầu A S và chị Vàng Thị S là có thật, mâu thuẫn của vợ chồng, do anh Sinh cung cấp phù hợp với nội dung xác nhận của địa phương. Nay anh Hầu A S xin ly hôn là có căn cứ, chấp nhận yêu cầu của anh Hầu A S, áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 xử cho anh Hầu A S đựợc ly hôn chị Vàng Thị S.

Về con: Anh Hầu A S và chị Vàng Thị S sinh được 02 cháu, cháu thứ nhất Hầu Thị Thủy, sinh ngày 20/8/2009, cháu thứ hai Hầu Seo Bình, sinh ngày 23/8/2010. Anh Sinh có nguyện vọng nuôi cả hai cháu.

Xét thấy anh Hầu A S hiện là công chức nhà nước có thu nhập ổn định hơn 10.000.000 đ/tháng, bản thân chị Vàng Thị S thường xuyên vắng nhà, thỉnh thoảng mới về, từ khi thụ lý vụ án chị Vàng Thị S không đến và không có văn bản trả lời, mặt khác cả hai cháu đều muốn ở với anh S, vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh S, giao cả 02 cháu cho anh S nuôi dưỡng đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi.

Về tiền cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Hầu A S không yêu cầu chị Vàng Thị S cấp dưỡng tiền nuôi con chung, vì vậy hội đồng xét xử không giải quyết.

Về tài sản: Anh Hầu A S không yêu cầu Toà án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, anh Hầu A S phải chịu án phí ly hôn theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án ngày 30/12/2016.

Tuyên xử:

1. Xử cho anh Hầu A S được ly hôn chị Vàng Thị S.

2. Về con: Anh Hầu A S trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Hầu Thị Th, sinh ngày 20/8/2009 và cháu Hầu Seo B, sinh ngày 23/8/2010 cho đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Hầu A S không yêu cầu chị Vàng Thị S cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Chị Vàng Thị S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Anh Hầu A S phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai theo biên lai số AB/2012/0003275 ngày 12 tháng 8 năm 2019.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự, có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ