vanban.org

Bản án 08/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử không công nhận chị Hà Thị M và anh Vì Văn Ch là vợ chồng.

Về con chung: Giao hai cháu Vì Mạnh T, sinh ngày 09/12/2003 và cháu Vì Thị Hải Y sinh ngày 16/9/2010 cho chị Hà Thị M trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Anh Vì Văn Ch không phải cấp dưỡng nuôi con chung, nhưng có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con, không ai có quyền ngăn cản. Về … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bản án ly hôn M- Ch"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử không công nhận chị Hà Thị M và anh Vì Văn Ch là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN V H
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2019/HNGĐ – ST.
Ngày: 04 tháng 11 năm 2019.
V/v Xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V H, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Quang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Mùi Văn Huấn.

2. Bà Nguyễn Thị Tam.

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Hồng Nghiêm, Thư ký Tòa án nhân dân huyện VH, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện VH tham gia phiên toà: Ông Đăng Văn Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện VH, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 77/2019/TLST - HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2019 về việc Xin ly hôn. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2019/QĐXX-ST ngày 27 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Hà Thị M, sinh năm 1987; địa chỉ: Bản Kh 2, xã Ch Kh, huyện VH, tỉnh Sơn La. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Vì Văn Ch. Sinh năm 1985; địa chỉ: Bản Kh 2, xã Ch Kh, huyện VH, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, chị Hà Thị M: Chị và anh Vì Văn Ch tự nguyện tìm hiểu và sống như vợ chồng từ năm 2003, không có đăng ký kết hôn. Cuộc sống vợ chồng không được hạnh phúc do chị phát hiện anh Ch mắc nghiện chất ma túy. Anh Ch đã được đưa đi tập trung cai nghiện nhưng về lại tái nghiện ma túy, chơi bời, cờ bạc, rượu chè. Chị nhiều lần khuyên ngăn, động viên không được, còn nghiện nặng hơn và thường xuyên đánh chửi, dọa dẫm chị M. Hiện vợ chồng chị đã ly thân, không còn sống chung. Nay chị thấy vợ chồng không thể hàn gắn được nữa, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho ly hôn anh Vì Văn Ch.

Về con chung: Anh chị sinh được hai người con chung: là cháu Vì Mạnh T, sinh ngày 09/12/2003 và cháu Vì Thị Hải Y sinh ngày 16/9/2010. Do anh Ch nghiện chất ma túy không có điều kiện tốt để chăm sóc hai cháu, chị M đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu anh Ch cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Mặc dù sống với nhau cũng khá lâu, nhưng vì anh Ch nghiện ma túy, bán hết tài sản để chơi bời, nên không có tài sản gì đáng giá và không vay nợ ai. Do vậy, không đề nghị HĐXX xem xét.

Cuối cùng, nguyên đơn đề nghị HĐXX xem xét cho chị được ly hôn anh Vì Văn Ch, nuôi con chung đến khi trưởng thành.

- Bị đơn anh Vì Văn Ch đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng không có mặt tại phiên tòa. Tòa án đã tiến hành xác minh về tình trạng hôn nhân của anh Vì Văn Ch và chị Hà Thị M để làm căn cứ giải quyết vụ án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện VH phát biểu ý kiến: Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán và những người tiến hành tố tụng trong việc thụ lý, giải quyết vụ án thực hiện đúng quy định của pháp luật. Xét thấy, chị Hà Thị M và anh Vì Văn Ch sống chung như vợ chồng và không có đăng ký kết hôn, không còn quan tâm chăm sóc nhau, mâu thuẫn đã thật sự trầm trọng, tình cảm không còn, đề nghị HĐXX căn cứ các điều 14, 15, 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận đơn khởi kiện của chị Hà Thị M, xử không công nhận chị Hà Thị M và anh Vì Văn Ch là vợ chồng. Giao cả hai cháu Vì Mạnh T, sinh ngày 09/12/2003 và cháu Vì Thị Hải Y sinh ngày 16/9/2010 cho chị Hà Thị M nuôi dưỡng, giáo dục đến khi trưởng thành và giải quyết phần án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của đương sự, được thẩm tra tại phiên tòa, hội đồng xét xr nhận định.

Về thủ tục tố tụng: Chị Hà Thị M và anh Vì Văn Ch đều đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Bản Kh 2, xã Ch Kh, huyện VH Tỉnh Sơn La. Chị M có đơn xin ly hôn, Tòa án nhân dân huyện VH, tỉnh Sơn la thụ lý, giải quyết là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của BLTTDS. Tại phiên tòa anh Ch vắng mặt, trong quá trình giải quyết anh Ch không hợp tác, tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ, thông báo, Quyết định của Tòa án, như vậy Tòa án nhâ dân huyện VH xét xử vắng mặt anh Vì Văn Ch là có căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 228 BLTTDS.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thị M và anh Vì Văn Ch tự nguyện sống chung như vợ chồng, nhưng không có đăng ký kết hôn. HĐXX xét thấy, quan hệ hôn nhân của chị Hà Thị M và anh Vì Văn Ch là không hợp pháp, do vậy không công nhận chị Hà Thị M và anh Vì Văn Ch là vợ chồng.

Về con chung: Anh Vì Văn Ch và chị Hà Thị M có 02 con chung là cháu Vì Mạnh T, sinh ngày 09/12/2003 và cháu Vì Thị Hải Y sinh ngày 16/9/2010. Chị Hà Thị M đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng 2 cháu đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu anh Ch cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Vì Văn Ch đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không có mặt, không trình bày ý kiến quan điểm của mình, qua xác minh anh Ch nghiện chất ma túy, không đủ điều kiện chăm sóc con chung. Do vậy, chấp nhận yêu cầu của chị M được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục hai cháu Vì Mạnh T, sinh ngày 09/12/2003 và cháu Vì Thị Hải Y sinh ngày 16/9/2010 đến khi trưởng thành, anh Vì Văn Ch không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị M.

Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu, không đặt vấn đề giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn, chị Hà Thị M khởi kiện phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 146, khoản 4 Điều 147, khoản 1, 3 Điều 228 BLTTDS; khoản 1 Điều 14; Điều 15; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83; Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 25, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử không công nhận chị Hà Thị M và anh Vì Văn Ch là vợ chồng.

2. Về con chung: Giao hai cháu Vì Mạnh T, sinh ngày 09/12/2003 và cháu Vì Thị Hải Y sinh ngày 16/9/2010 cho chị Hà Thị M trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Anh Vì Văn Ch không phải cấp dưỡng nuôi con chung, nhưng có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con, không ai có quyền ngăn cản.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt vấn đề giải quyết.

4. Về án phí: Chị Hà Thị M chịu án phí xin ly hôn là 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng đã nộp tại biên lai thu số: AA/2016/0001084 ngày 06/9/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện VH, tỉnh Sơn La.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc 15 ngày kể từ ngày niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử phúc thẩm. Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - chủ tọa

Hội thẩm nhân dân Mùi Văn Huấn

Nguyễn Đăng Quang

Nguyễn Thị Tam Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

- TAT;

- VKS tỉnh, huyện;

- THADS;

- Sở Tư pháp;

- UBND xã;

- Các đương sự;

- Lưu HS;

- Lưu VP

Nguyễn Đăng Quang

Cỡ chữ