- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Q yêu cầu ly hôn anh L"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị Q được ly hôn anh Trương Văn L.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 208 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2019/HNGĐ-ST Ngày: 25/3/2019 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Đào Anh Đức
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đặng Văn Thuận
2. Ông Nguyễn Văn Quý
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Hùng – Thư ký Tòa án, TAND huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàn – Kiểm sát viên
Ngày 25 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 247/2018/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 12 năm 2018 về: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 06/2019/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2019, giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Q; Sinh năm: 1994
Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
2.Bị đơn: Anh Trương Văn L; Sinh năm: 1993
Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa
Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 28/11/2018 chị Bùi Thị Q trình bày:
- Về hôn nhân: Chị và anh Trương Văn L kết hôn tự nguyện có đăng ký kết hôn ngày 30/7/2012 tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Sau ngày cưới vợ chồng hòa thuận được 03 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hòa hợp, không chung quan điểm sống nên thường xuyên sảy ra cãi cọ. Chính vì thế mà gia đình không được hạnh phúc. Thời gian kéo dài khiến cho chị cảm thấy vô cùng chán nản. Vợ chồng đã sống ly thân từ khoảng tháng 1/2016 đến nay không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Đến nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể níu kéo được nữa nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh L.
- Về con cái: Vợ chồng có một con chung là cháu Trương Hoàng V, sinh ngày 16/06/2012. Ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
- Về tài sản : Vợ chồng không có tài sản chung, chị Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 07/12/2018 và trong quá trình giải quyết vụ án, chị Q thay đổi yêu cầu khởi kiện về về đề con cái, cụ thể: Chị Q yêu cầu được giao con chung cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng, chị cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh L mỗi tháng là 700.000đ (Bảy trăm nghìn đồng), thời gian cấp dưỡng từ khi vụ án được giải quyết đến khi cháu V đủ 18 tuổi.
Tòa án đã triệu tập anh Trương Văn L hai lần để nộp bản tự khai nhưng anh L đều vắng mặt nên không có lời khai của anh L trong hồ sơ vụ án.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Tòa án đã xác định đúng quan hệ pháp luật và tư cách tố tụng của các đương sự trong vụ án. Từ giai đoạn thụ lý vụ án cho đến khi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án cũng như các thành viên của Hội đồng xét xử ( Sau đây viết tắt là HĐXX) và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự ( sau đây viết tắt là BLTTDS). Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng các Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình; Về hôn nhân: Xử cho Bùi Thị Q được ly hôn anh Trương Văn L; Về con cái: Giao con chung là cháu Trương Hoàng V, sinh ngày 16/6/2012 cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Q cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh L mỗi tháng là 700.000đ (Bảy trăm nghìn đồng), thời gian cấp dưỡng từ tháng 3 năm 2019 cho đến khi cháu V đủ 18 tuổi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Đây là vụ án Hôn nhân và gia đình có con chưa thành niên và trong quá trình giải quyết vụ án, do các bên đương sự chưa thống nhất được các vấn đề tranh chấp trong vụ án nên Tòa án đã tiến hành xác minh để xác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp theo khoản 3 Điều 208 BLTTDS và đã thông báo kết quả thu thập tài liệu chứng cứ cho các bên đương sự cũng nhưng VKS được biết.
Cũng trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho các bên đương sự, nhưng anh L không có mặt nên Tòa án đã thông báo kết quả kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ cho anh L theo khoản 3 Điều 210 BLTTDS.
Anh Lương đã được triệu tập hợp lệ đến phiên hoà giải hai lần nhưng anh L đều không đến để tham gia hoà giải nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Đây là trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 điều 207 BLTTDS.
Tại phiên tòa hôm nay, chị Q vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt, anh L đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238 BLTTDS, Tòa án xét xử vắng mặt chị Q và anh L.
Về hôn nhân:
Chị Bùi Thị Q và anh Trương Văn L kết hôn tự nguyện có đăng ký kết hôn ngày 30/7/2012 tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa và không vi phạm các Điều 9, 10 Luật hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo khoản 1 điều 28 BLTTDS.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau được 03 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, luôn bất đồng quan điểm nên hay sảy ra cãi vã. Chị Q đã về nhà bố mẹ đẻ từ đầu năm 2016 đến nay và vợ chồng sống ly thân, mỗi người một nơi, không còn qua lại, quan tâm gì đến nhau nữa. Việc này đã được các cấp chính quyền xã T xác nhận và cũng phù hợp với nội dung Biên bản xác minh nguyên nhân dẫn đến tranh chấp mà Tòa án đã tiến hành thu thập. Nay chị Q yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh L, Hội đồng xét xử xét thấy gi÷a chÞ Q vµ anh L m©u thuÉn vî chång ®· ®Õn møc trÇm träng, đời sèng chung kh«ng thÓ kÐo dµi, môc ®Ých h«n nh©n kh«ng ®¹t ® îc. V× vËy, cần c¨n cø ®iÒu 56 LuËt h«n nh©n vµ gia ®×nh xö cho chị Bùi Thị Q được ly hôn anh Trương Văn L.
Về con cái: Chị Bùi Thị Q và anh Trương Văn L có một con chung là Trương Hoàng V, sinh ngày 16/6/2012. Ly hôn, chị Q yêu cầu giao con cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng, chị cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh L mỗi tháng là 700.000đ (Bảy trăm nghìn đồng) cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Xét thấy, từ khi vợ chồng sống ly thân thì cháu V luôn ở với anh L và bố mẹ anh L. Để tránh sự xáo trộn trong cuộc sống và sinh hoạt hàng ngày của cháu. Nghĩ nên chấp nhận yêu cầu của chị Q, giao cháu V cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng, chị Q cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh L mỗi tháng là 700.000đ.
Về tài sản: Chị Q không yêu cầu nên miễn xét.
Về án phí: Chị Q phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 1 điều 24, điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu án phí và lệ phí Toà án.
Về hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị Q được ly hôn anh Trương Văn L.
Về con cái: Giao con chung là cháu Trương Hoàng V, sinh ngày 16/6/2012 cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng, chị Q cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh L mỗi tháng là 700.000đ (Bảy trăm nghìn đồng), thời gian cấp dưỡng từ tháng 3 năm 2018 cho đến khi cháu V đủ 18 tuổi.
Khoản tiền cấp dưỡng nuôi con được thi hành ngay mặc dù bản án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Chị Q có quyền qua lại trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
Kể từ khi anh L có đơn yêu cầu thi hành án, nếu chưa thi hành án khoản tiền cấp dưỡng nuôi con thì hàng tháng chị Q còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo quy định tại Điều 357; Khoản 2 Điều 468 BLDS trên số tiền phải thi hành án, tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Về án phí: Chị Bùi Thị Q phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn và 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp dưỡng nuôi con. Chị Q đã nộp tạm ứng án phí DSST là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thành theo biên lai số AA/2016/0003486 ngày 29/11/2018, chị Q còn phải nộp tiếp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí DSST.
Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt chị Bùi Thị Q và anh Trương Văn L. Chị Q và anh L có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Thạch Thành; - Các đương sự; - UBND xã T; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( Đã ký) Nguyễn Thị Cúc |