vanban.org

Bản án 08/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và

gia đình 2014; Điều 35, Điều 39, kho n 4 Điều 147, kho n 2 Điều 227, Điều 228 BLTTDS năm 2015; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Đình T1 - Lê Thị T2"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIM THÀNH
TỈNH HẢI DƯƠNG
Bản án số: 08/2019/HNGĐ-ST

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Ngày: 31/5/2019
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH - TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Thế Hưng.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Ngô Văn Minh.

2. Ông Đào Xuân Tìm.

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Giang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kim

Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành: Bà Nguyễn Thị

Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở TAND huyện Kim Thành xét xử sơ

thẩm công khai vụ án thụ lý số 10/2018/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm

2019, về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ

thẩm số 15/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 17/4/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số

12/2019/QĐST-HNGĐ ngày 15/5/2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Đình T1, sinh năm 1972.

Nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh H i ương.

- Bị đơn: Chị Lê Thị T2, sinh năm 1973.

Nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh H i ương.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn, b n tự khai, biên b n lấy lời khai anh Nguyễn Đình T1

trình bày: Anh và chị Lê Thị T2 được tự do tìm hiểu nhau và tự nguyện đăng ký

kết hôn ngày 10/01/1997 tại UBN xã Đ, huyện Kim Thành, tỉnh H i ương. Sau

khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc kho ng 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn,

vào kho ng năm 2003 khi anh mổ ruột thừa thì chị T2 viết đơn ly hôn và gửi ra xã

nhưng lúc đó do thương con nên cố nín nhịn cho qua để con có đủ c bố và mẹ. Sau sự việc ấy thì cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng vẫn tiếp diễn, vợ chồng hay đánh, cãi chửi nhau. Mâu thuẫn giữa vợ chồng căng thẳng nhất kể từ năm 2018 khi xây nhà, vợ chông cãi nhau nhiều, không thể hòa gi i được. Vợ chồng đã sống ly thân kho ng 2 – 3 năm, mỗi người ở một nhà. Kinh tế giữa vợ chồng không còn chung nhau, không ai quan tâm đến ai, vợ chồng đã ăn riêng, ở riêng từ lâu. Đến nay anh xác định tình c m vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng không thể khắc phục được nên đề nghị Tòa án gi i quyết cho ly hôn với chị T2.

Về con chung: vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Đình L, sinh ngày

20/10/1997 và Nguyễn Đình C, sinh ngày 20/11/2001. Vì cháu L đã trưởng thành nên anh không đề nghị gi i quyết, còn cháu C có nguyện vọng được ở với mẹ thì anh đồng ý và anh sẽ cấp dưỡng nuôi cháu C cho chị T2 là 1.000.000đ/ 1 tháng đến khi cháu đủ 18 tuổi.

Về tài s n chung, nợ chung: Anh T1 xác định vợ chồng tự thỏa thuận nên

không đề nghị Tòa án gi i quyết; Về nợ chung: không có.

Theo biên b n lấy lời khai, biên b n hòa gi i chị Lê Thị T2 trình bày: Chị và

anh T1 được tự do tìm hiểu nhau và tự nguyện đăng đăng ký kết hôn ngày 10/01/1997 tại UBN xã Đ, huyện Kim Thành, tỉnh H i ương. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc kho ng 6 năm thì phát sinh mâu thuẫn, vào năm 2003 anh T1 mổ ruột thừa, chị có chăm sóc nhưng anh T1 vì câu nói mà lại đánh đuổi chị, nên chị có viết đơn ly hôn nhưng mang ra xã họ không nhận. Sau đó vợ chồng vẫn tiếp tục chung sống với nhau, trong cuộc sống vợ chồng cũng có cãi chửi nhau do mâu thuẫn. Đến năm 2007, khi vợ chồng đi chợ ở Qu ng Ninh thì anh T1 có biểu hiện không chung thủy, có quan hệ với người phụ nữ khác, chị có khuyên ngăn nhưng anh T1 không nghe, từ đó anh T1 đối xử không tốt với chị, gây sự với chị nhiều hơn. Từ đó trở đi cuộc sống vợ chồng luôn căng thẳng, không có hạnh phúc. Đến năm 2018, khi anh T1 quyết định xây nhà nhưng chị không đồng ý nên vợ chồng cãi chửi nhau, mâu thuẫn ngày càng căng thẳng hơn. Vợ chồng đã sống ly thân, mỗi người ở một nhà, kinh tế riêng không còn chung với nhau từ lâu. Tuy nhiên đến nay chị không đồng ý ly hôn với anh T1, mặc dù tình c m vợ chồng không còn, anh T1 đối xử quá tàn tệ với chị nhưng vì nghĩ thương con, không muốn các con thiếu bố hoặc thiếu mẹ.

Về con chung: vợ chồng tôi có 02 con chung là Nguyễn Đình L, sinh ngày

20/10/1997 và Nguyễn Đình C, sinh ngày 20/11/2001. Vì cháu L đã trưởng thành nên chị không đề nghị gi i quyết, còn cháu C có nguyện vọng được ở với chị thì chị xin nuôi cháu C, còn anh T1 cấp dưỡng nuôi cháu C cho chị là 1.000.000đ/ 1 tháng đến khi cháu đủ 18 tuổi thì chị cũng đồng ý.

Về tài s n chung, nợ chung: chị T2 xác định vợ chồng tự thỏa thuận về tài

s n chung nên không đề nghị Tòa án gi i quyết; Về nợ chung: không có.

Theo biên b n xác minh tại UBN xã Đ: Anh Nguyễn Đình T1 và chị Lê Thị

T2 có đăng ký kết hôn tại UBN xã Đ vào ngày 10/01/1997. Trong cuộc sống vợ

chồng T1 T2 có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân xuất phát từ tình c m, vợ chồng

hay đánh cãi chửi nhau. Anh T1 chị T2 đã sống ly thân từ lâu, ăn riêng, ở riêng,

kinh tế riêng.

Theo lời khai của trưởng thôn, chi hội trưởng chi hội phụ nữ thôn và trưởng

ban mặt trận tổ quốc thôn của thôn Đ, xã Đ, huyện Kim Thành, tỉnh H i ương cung

cấp: Trong cuộc sống vợ chồng T1 T2 có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân xuất

phát từ tình c m, vợ chồng hay đánh cãi chửi nhau, mâu thuẫn vợ chồng căng

thẳng nhất là kể từ đầu năm 2018 khi vợ chồng xây nhà. Anh T1 chị T2 đã sống

ly thân kho ng 3 đến 4 năm, ăn riêng, ở riêng, kinh tế riêng.

Theo lời khai của cháu Nguyễn Đình C cung cấp: Cháu không biết nguyên

mâu thuẫn giữa bố mẹ, chỉ thấy bố mẹ hay cãi nhau, bố mẹ đã ăn riêng, ở riêng từ

lâu. Nếu Tòa án gi i quyết cho bố mẹ ly hôn thì cháu có nguyện vọng được ở với

mẹ.

Tại phiên tòa anh Nguyễn Đình T1 có mặt. Chị Lê Thị T2 được triệu tập

hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do.

Trong quá trình làm việc với Tòa án chị Lê Thị T2 không đồng ý ký vào các

biên b n làm việc và từ chối nhận các văn b n tố tụng của Tòa án, do vậy Tòa án đã

tiến hành niêm yết công khai các văn b n tố tụng tại trụ sở UBN xã Đ, nơi cư trú

của chị Lê Thị T2 và tại trụ sở TAND huyện Kim Thành theo quy định của pháp

luật.

Đại diện VKSN huyện Kim Thành phát biểu quan điểm xác định những

người tiến hành tố tụng và nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của pháp

luật, bị đơn thực hiện không đúng các quy định của pháp luật. Chị T2 vắng mặt

không lý do, đề nghị tòa án áp dụng kho n 2 Điều 227, Điều 228 BLTT S xử

vắng mặt chị T2.

- Về hướng gi i quyết vụ án: đề nghị TAND huyện Kim Thành áp dụng

Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho anh Nguyễn Đình T1 được ly hôn chị

Lê Thị T2; Về con chung: giao con Nguyễn Đình C, sinh ngày 20/11/2001 cho

chị T2 nuôi dưỡng, anh T1 cấp dưỡng nuôi con cho chị T2 là 1.000.000đ/ 1

tháng đến khi con đủ 18 tuổi; Về tài s n chung và nợ chung: đương sự không

yêu cầu nên không xem xét; Về án phí: Nguyên đơn ph i chịu án phí HNGĐ sơ

thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra công khai

tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bị đơn cư trú tại xã Đ, huyện Kim Thành, tỉnh H i ương

nên yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 BLTTDS thuộc thẩm quyền gi i quyết của TAN huyện Kim Thành. Chị Lê Thị T2 được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do nên HĐXX xét xử vắng mặt chị T2 là phù hợp với quy định tại kho n 2 Điều 227, Điều 228 BLTTDS.

Về yêu cầu xin ly hôn: Anh Nguyễn Đình T1 và chị Lê Thị T2 được tự

do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 10/01/1997 tại UBN xã Đ, huyện Kim Thành, tỉnh H i ương nên là hôn nhân hợp pháp.

Căn cứ vào các lời khai của anh T1, chị T2, các biên b n xác minh,

xác định vợ chồng T1 T2 có mâu thuẫn, nguyên nhân xuất phát do tính cách, quan điểm của vợ chồng không phù hợp nên vợ chồng hay cãi nhau, ngoài ra còn việc nghi ngờ nhau về sự chung thủy, chị nghi ngờ anh có quan hệ với người khác nhưng không có chứng cứ, b n thân anh không thừa nhận việc này, nên mâu thuẫn vợ chồng tiếp diễn; mâu thuẫn giữa anh chị ngày càng căng thẳng nhất khi anh xây nhà trên đất của bố mẹ vào năm 2018, do vợ chồng không đồng nhất về quan điểm nên xẩy ra tranh chấp đánh cãi chửi nhau; gia đình đã hòa gi i nhưng vẫn không khắc phục được; anh chị đã ăn riêng, ở riêng, kinh tế riêng, cuộc sống của ai người đấy lo, không quan tâm lo lắng cho nhau và c hai bên đều xác định cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Vợ chồng đã sống ly thân, mỗi người một nơi, Tòa án đã cho anh chị thời gian để hòa gi i nhưng anh T1 vẫn kiên quyết xin ly hôn không muốn đoàn tụ, chị T2 cũng xác định tình c m vợ chồng không còn, chị không chấp nhận một người chồng như anh T1, anh chị không thể quay lại với nhau, tuy nhiên chị không muốn ly hôn chỉ vì không muốn con thiếu bố hay mẹ. Từ những phân tích trên, HĐXX thấy rằng tình trạng hôn nhân của vợ chồng T1 T2 đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, đời sống chung không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh T1, xử cho anh T1 được ly hôn chị T2 là phù hợp thực tế và các quy định của Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: anh T1 và chị T2 xác định vợ chồng có 02 con chung là

Nguyễn Đình L, sinh ngày 20/10/1997 và Nguyễn Đình C, sinh ngày 20/11/2001. Vì cháu L đã trưởng thành nên anh chị không đề nghị gi i quyết, còn anh chị đề nghị Tòa án gi i quyết cho cháu C ở với chị T2 khi vợ chồng ly

hôn. Xét thấy, cháu C đã trên 7 tuổi và cháu có nguyện vọng được ở với mẹ khi

bố mẹ ly hôn. Anh T1 và chị T2 cùng thống nhất để chị T2 nuôi dưỡng cháu C

khi ly hôn. o vậy, HĐXX giao cháu Nguyễn Đình C cho chị T2 nuôi dưỡng là

phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh T1 và chị T2 thống nhất anh T1 cấp

dưỡng nuôi cháu Nguyễn Đình C cho chị T2 là 1.000.000đ/ 01 tháng đến khi

cháu C đủ 18 tuổi, xét thấy sự thống nhất của anh chị phù hợp quy định pháp

luật nên HĐXX chấp nhận.

Về tài s n chung, nợ chung: Anh T1 và chị T2 đều xác định vợ chồng

tự thỏa thuận về tài s n chung nên không đề nghị Tòa án gi i quyết, còn về nợ

chung thì vợ chồng không vay nợ ai và không cho ai vay nợ, do vậy HĐXX

không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn ph i chịu c án phí sơ thẩm ly hôn và án phí

cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại kho n 4 Điều 147 BLTT S và Nghị quyết

326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và

gia đình 2014; Điều 35, Điều 39, kho n 4 Điều 147, kho n 2 Điều 227, Điều 228

BLTTDS năm 2015; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH.

2. Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Đình T1: Xử cho anh

Nguyễn Đình T1 ly hôn chị Lê Thị T2.

- Về con chung: Giao con Nguyễn Đình C, sinh ngày 20/11/2001 cho chị

Lê Thị T2 trực tiếp nuôi dưỡng, anh Nguyễn Đình T1 cấp dưỡng nuôi con cho

chị T2 là 1.000.000đ/ 01 tháng, kể từ tháng 5/2018 đến khi con chung đủ 18

tuổi. .

Không ai được ngăn c n quyền gặp gỡ, thăm nom con chung.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án kho n tiền

trên mà người bị thi hành án không thi hành thì ph i chịu lãi suất theo quy định

tại Điều 468 BL S năm 2015.

- Về tài s n chung, nợ chung: các đương sự không yêu cầu gi i quyết.

- Về án phí: Anh Nguyễn Đình T1 ph i chịu 300.000đ án phí Hôn nhân và gia

đình sơ thẩm và 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con, được đối trừ vào 300.000đ

tiền tạm ứng án phí anh T1 đã nộp theo biên lai số AA/2017/0003867 ngày

17/01/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Kim Thành. Anh T1 ph i nộp tiếp

300.000đ.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Báo cho anh

Nguyễn Đình T1 biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, báo cho chị Lê Thị T2 biết biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được b n án hoặc b n án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án quyền, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ