- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phan Thị Thúy A ly hôn anh Nguyễn Văn T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Phan Thị Thúy A được ly hôn anh Nguyễn Văn T
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC PHỔ TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2019/HNGĐ-ST Ngày: 27-6- 2019 V/v “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Cư
2. Bà Lê Thị Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Hòa- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Phổ tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Hùng- Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Phổ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý 47/2019/TLST- HNGĐ về việc “ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2019/QĐXX-ST ngày 04 tháng 6 năm 2019 giữa các đương sự:
1/ Nguyên đơn: Chị Phan Thị Thúy A, sinh năm 1992; ( Có mặt)
Địa chỉ: thôn T, xã X, huyện Y, tỉnh Quảng Ngãi.
2/Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1993;( Có mặt)
Địa chỉ: thôn L, xã X, huyện Y, tỉnh Quảng Ngãi.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện tại bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn chị Phan Thị Thúy A trình bày:
Chị Phan Thị Thúy A và anh Nguyễn Văn T có tìm hiểu và yêu thương nhau, kết hôn vào năm 2017, đăng ký kết hôn tại UBND X. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do không cùng quan điểm sống nên thường xuyên cải nhau. Từ đó vợ chồng sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Nay chị A nhận thấy không còn tình cảm với anh T nên yêu cầu được ly hôn. Về con chung: Vợ chồng chị A và anh T có 01người con chung tên Nguyễn Phan Đăng K –sinh ngày 20/10/2017. Hiện con chung đang sống với chị A. Khi ly hôn chị A yêu cầu nuôi con chung và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng
Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa giải quyết.
Về nợ chung: không có
Trong quá trình giải quyết vụ án và phiên tòa Bị đơn Nguyễn Văn T trình bày: Anh thống nhất với lời trình bày của chị Phan Thị Thúy A về thời gian kết hôn, địa điểm kết hôn. Vợ chồng chung sống không hạnh phúc, nguyên nhân là do mâu thuẫn trong việc làm ăn kinh tế nên vợ chồng thường xuyên cải nhau và đã sống ly thân. Nay chị A cương quyết muốn ly hôn thì anh T đồng ý. Về con chung: Anh T và chị A có 01người con chung tên Nguyễn Phan Đăng K – sinh ngày 20/10/2017. Khi ly hôn anh T yêu cầu nuôi con chung và không yêu cầu chị A phải cấp dưỡng
Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa giải quyết.
Về nợ chung: Không có
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên theo quy định tại Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa tuân theo đúng pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật tố tụng; Bị đơn không chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Về hướng giải quyết vụ án: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn chị Phan Thị Thúy A có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn với bị đơn anh Nguyễn Văn T ở thôn L, xã X, huyện Y, tỉnh Quảng Ngãi. Nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Phổ.
Về hôn nhân: Chị Phan Thị Thúy A và anh Nguyễn Văn T tự nguyện đăng ký kết hôn vào năm 2017 tại UBND xã X, do vậy quan hệ hôn nhân giữa chị A và anh T là hoàn toàn hợp pháp. Trong thời gian chung sống vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng đã không tôn trọng lẫn nhau, không còn quan tâm nhau và đã sống ly thân từ giữa năm 2018 đến nay. Mặc khác qua xác minh tại Hội phụ nữ xã X cho biết thì vợ chồng chị A và anh T hiện nay không sống chung. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị A và anh T đã ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử cho chị A được ly hôn với anh T.
Về con chung: Vợ chồng chị A và anh T có 01người con chung tên Nguyễn Phan Đăng K –sinh ngày 20/10/2017. Hiện nay cháu K đang ở với chị A. Khi ly hôn cả chị A và anh T đều yêu cầu được nuôi con chung. Xét yêu cầu nuôi con chung, Hội đồng xét xử thấy rằng. Từ nhỏ cháu K ở và gần giũ với mẹ, hơn nữa hiện cháu K dưới 36 tháng tuổi nên theo quy định của luật hôn nhân và gia đình cần giao cháu K cho chị A nuôi dưỡng là phù hợp. Vì vậy yêu cầu nuôi con của anh T không được chấp nhận. Chị A không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên miễn xét.
Về tài sản chung: không yêu cầu tòa án giải quyết nên Tòa không xét.
Về nợ chung: Không có
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Phổ phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Căn cứ theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án buộc chị Phan Thị Thúy A phải nộp 300.000 đồng.
Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 5, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho chị Phan Thị Thúy A được ly hôn anh Nguyễn Văn T
2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Phan Đăng K –sinh ngày 20/10/2017 cho chị A trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục. Chị A không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên miễn xét.
Anh Nguyễn Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm con chung, không ai được quyền cản trở.
3.Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
4. Về nợ chung: Không có
5. Về án phí: chị Phan Thị Thúy A phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn được khấu trừ vào 300.000 đồng, tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2014/0004858 ngày 22 tháng 3 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Đương sự;
THẨM PHÁN –CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện;
- TAND tỉnh;
- THDS huyện;
- UBND xã X;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Nguyễn Minh Kha
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện; - TAND tỉnh; - THDS huyện; - UBND thị trấn Đức Phổ; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Minh Kha |