vanban.org

Bản án 08/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ hôn nhân giữa anh Hoàng Văn T và chị Hoàng Thị X (S) là vợ chồng.

Về án phí: Anh Hoàng Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng chẵn) để sung công quỹ Nhà nước, xác nhận anh Hoàng Văn T đã nộp theo biên lai thu số AA/2015/0000653 ngày 08/8/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn. Án xử công khai sơ thẩm có … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ hôn nhân giữa anh Hoàng Văn T và chị Hoàng Thị X (S) là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 264 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH GIA
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2019/HNGĐ-ST
Ngày 29-8-2019
Về việc ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nông Thị Mỹ Phước

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hoàng Thị Hằng

2. Bà Phạm Thị Thương

- Thư ký phiên tòa: Ông Triệu Đức Long - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: ông Phạm Văn Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 52/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2019 về việc "Xin ly hôn", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2019/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1973. Địa chỉ: Thôn T 1, xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

- Bị đơn: Chị Hoàng Thị X (S), sinh năm 1976. Địa chỉ: Khối phố 4, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 03 tháng 8 năm 2019, bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Hoàng Văn T trình bày: Về quan hệ hôn nhân anh và chị Hoàng Thị X tự nguyện chung sống với nhau và có tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương từ năm 1995, nhưng không có đăng ký kết hôn. Sau khi về chung sống thì xảy ra mâu thuẫn, sau khi sinh con thì chị Hoàng Thị X đưa con nhỏ về nhà mẹ đẻ ở từ năm 2001 đến nay, không còn quan tâm đến nhau nữa. Cuộc sống chung của vợ chồng chỉ được một thời gian ngắn nên giữa hai người không có tình cảm. Nay yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Hoàng Thị X.

Về con chung: Có 01 người là Hoàng Công T, sinh ngày 28/7/1999, từ nhỏ chị Hoàng Thị X nuôi dưỡng, nay con đã lớn và đang phục vụ trong quân ngũ tại: Tiểu đoàn 31, Xóm B, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Nay anh không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Bị đơn chị Hoàng Thị X trình bày: Về hôn nhân thống nhất với lời trình bày của anh Hoàng Văn T. Do hai người đến với nhau là do hai bên gia đình sắp đặt, nên không có tình cảm. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2001 đến nay, không quan tâm đến nau nữa. Anh Hoàng Văn T xin ly hôn chị cũng nhất trí.

Về con chung: Có 01 người con chung như anh trần trình bày là đúng. Nay con đã trưởng thành, chị thống nhất với quan điểm của anh Hoàng Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, vay nợ chung: không có.

Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ. Do quan hệ hôn nhân của anh Hoàng Văn T và chị Hoàng Thị X không có đăng ký kết hôn, do vậy Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Từ khi thụ lý vụ án Thẩm phán đã tiến hành tố tụng đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Quá trình tiến hành tố tụng tại phiên tòa Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân thực hiện đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đầy đủ bảo đảm đúng quyền lợi và thực hiện nghĩa vụ khi tham gia tố tụng. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 14; Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số: 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326 về án phí, lệ phí Tòa án: tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Hoàng Văn T và chị Hoàng Thị X. Không xem xét về tài sản chung, nợ chung. Anh Hoàng Văn T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Quá trình kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Viện kiểm sát không có kiến nghị gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ hôn nhân: Hoàng Văn T và chị Hoàng Thị X có tổ chức cưới và chung sống với nhau, nhưng do không hiểu biết pháp luật nên anh, chị không đi đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, quá trình chung sống anh chị đã có con chung, tuy nhiên trong cuộc sống thường xảy ra mâu thuẫn, hai người đã sống ly thân từ năm 2001 đến nay, không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay anh Hoàng Văn T xin ly hôn được chị Hoàng Thị X nhất trí. Hội đồng xét xử thấy, do cuộc hôn nhân của anh chị không tuân thủ theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, do vậy căn cứ khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình, khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/012016 quan hệ hôn nhân giữa anh Hoàng Văn T và chị Hoàng Thị X không được pháp luật công nhận là quan hệ là vợ chồng.

Về con chung: Anh Hoàng Văn T và chị Hoàng Thị X có 01 người con tên là Hoàng Công T, sinh ngày 28/7/1999, được chị Hoàng Thị X nuôi dưỡng từ nhỏ, nay cháu đã lớn và đang phục vụ trong quân ngũ tại: Tiểu đoàn 31, Xóm B, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Tại đơn trình bày ngày 12/8/2019 Hoàng Công T có ý kiến hiện nay đã trưởng thành và thực hiện nghĩa vụ quân sự và có thể sống tự lập và lo cho bản thân. Nay các bên không yêu cầu giải quyết về con chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Hai bên thống nhất không có, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: anh Hoàng Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 5 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án..

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân gia đình 2014; Điều 28; Điều 264; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/012016; Điều điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

1. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ hôn nhân giữa anh Hoàng Văn T và chị Hoàng Thị X (S) là vợ chồng.

2. Về án phí: Anh Hoàng Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng chẵn) để sung công quỹ Nhà nước, xác nhận anh Hoàng Văn T đã nộp theo biên lai thu số AA/2015/0000653 ngày 08/8/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt các đương sự. Các bên có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ