- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NGUYỄN THỊ CẨM D - LƯU VĂN L"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Cẩm D và anh Lưu Văn L được ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2019/HNGĐ-ST Ngày: 07/3/2019 “V/v ly hôn và nuôi con” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN-TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Tâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
1- Ông Trần Thanh Điền.
2- Ông Bùi Minh Cảnh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đen, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang: Bà Lai Thị Ngọc Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 3 năm 2019, tại Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 263/2018/TLST-HNGĐ, ngày 04 tháng 12 năm 2019 về việc: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2019/QĐXX-ST, ngày 23 tháng 01 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 03/2019/QĐST- HNGĐ, ngày 19 tháng 02 năm 2019, giữa các đương sự:
1- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Cẩm D, sinh ngày 08/3/1986 (vắng
mặt).
2- Bị đơn: Anh Lưu Văn L, sinh năm 1982 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp Hai Tốt, xã Tây Yên A, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 31/8/2018 nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cẩm D trình bày và yêu cầu như sau:
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Cẩm D và anh Lưu Văn L kết hôn với nhau vào năm 2007, có tổ chức lễ cưới theo phong tục ở địa phương, có đăng ký kết hôn vào ngày 11/9/2009 tại Ủy ban nhân dân xã TA, huyện A, tỉnh Kiên Giang.Vợ chồng chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Lanh không lo làm ăn mà thường xuyên uống rượu về kiếm chuyện chửi vợ con rất là thô tục từ đó vợ chồng đã ly thân với nhau từ năm 2016 cho đến nay. Nay chị xét thấy tình cảm của vợ chồng không còn nữa nên chị yêu cầu xin được ly hôn với anh L.
Về con chung: Có 01 đứa con tên Lưu Thị M, sinh ngày 02/02/2008, từ khi ly thân cho đến nay chị D chăm sóc, nuôi dưỡng, cuộc sống của cháu vẫn ổn định và bản thân chị có đủ điều kiện để nuôi con. Nay chị yêu cầu xin được nuôi con và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Cẩm D thừa nhận không có nên không yêu cầu Tòa giải quyết.
Đối với bị đơn anh Lưu Văn L Tòa án đã tống đạt hợp lệ gồm: Thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh L vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng và cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu của chị D.
Tại phiên tòa hôm nay, chị Nguyễn Thị Cẩm D vắng mặt, nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt.
Tại phiên tòa hôm nay, anh Lưu Văn L vắng mặt.
Quan điểm của đại viện Viện kiểm sát:
Về phần thủ tục: Từ khi thụ lý hồ sơ vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử thì Thẩm phán đã thực hiện trình tự thủ tục đúng theo quy định của pháp luật. Tại phiên toà, Hội đồng xét xử và thư ký đã thực hiện trình tự thủ tục đúng theo quy định của pháp luật.
Về phần nội dung:
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Cẩm D xử cho chị Nguyễn Thị Cẩm D và anh Lư Văn L được ly hôn.
Về con chung: Ghi nhận ý kiến của chị Nguyễn Thị Cẩm D là giao cháu Lưu Thị M, sinh ngày 02/02/2008 (theo nguyện vọng của cháu M) cho chị Nguyễn Thị Cẩm D chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh L không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản và phần nợ chung: Chị Nguyễn Thị Cẩm D không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền xét xử: Đây là quan hệ tranh chấp về ly hôn, nuôi con và bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Căn cứ khoản 1 Điều 28 điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử là đúng thẩm quyền.
Về thủ tục tố tụng:
Đối với chị Nguyễn Thị Cẩm D đã được triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy, chị D đã có lời trình bày thể hiện trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử chấp nhận xét xử vắng mặt đối với chị Nguyễn Thị Cẩm D theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Đối với anh Lưu Văn L được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt đối với anh Lưu Văn L.
Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Cẩm D và anh Lưu Văn L kết hôn với nhau vào năm 2007 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TA, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Theo giấy chứng nhận kết hôn 109, ngày 11/9/2009 nên hôn nhân của chị D và anh L là hợp pháp.
Về mâu thuẫn, sau khi vợ chồng về chung sống được thời gian thì phát sinh ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh L không lo làm ăn mà thường xuyên uống rượu về kiếm chuyện chửi vợ con rất là thô tục, đến năm 2016 vợ chồng đã ly thân với nhau cho đến nay. Từ khi ly thân cho đến nay anh L bỏ mặt vợ con không về thăm nom và anh chị cũng không tự hòa giải được.
Từ đó, xét thấy mâu thuẫn của vợ chồng ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị D xử cho Nguyễn Thị Cẩm D và anh Lưu Văn L ly hôn là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị Cẩm D và anh Lưu Văn L có 01 người con tên Lưu Thị M, sinh ngày 02/02/2008, chị yêu cầu xin được nuôi con và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, yêu cầu của chị D là có cơ sở. Bởi vì, từ khi ly thân cho đến nay chị D chăm sóc, nuôi dưỡng cháu M, cuộc sống của cháu vẫn ổn định và bản thân chị có điều kiện để nuôi con, đồng thời cũng theo nguyện vọng của cháu M. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Diền xử giao cháu Lưu Thị M cho chị D chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh L không phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về tài sản và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Cẩm D không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Cẩm D phải chịu 300.000đ. Nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ. Vậy chị D đã nộp đủ tiền án phí.
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nêu trên là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án và khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoàn 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Cẩm D và anh Lưu Văn L được ly hôn.
2.Về con chung: Giao cháu Lưu Thị M, sinh ngày 02/02/2008 (theo nguyện vọng của cháu M) cho chị Nguyễn Thị Cẩm D chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Lưu Văn L không phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh L có quyền thăm nom con chung, không ai được ngăn cản. Khi cần thiết chị D và anh L có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Cẩm D không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
4. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Cẩm D phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng). Nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), theo lai thu số 0005787, ngày 04/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Vậy chị D đã nộp đủ tiền án phí.
5. Báo quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm báo cho chị Nguyễn Thị Cẩm D và anh Lưu Văn L vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
6. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện An Biên; - THADS huyện An Biên; - UBND xã Tây Yên A;. - Các đương sự; - Lưu Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thanh Tâm |