- Tranh chấp gì? Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, nuôi con và chia tài sản khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Ch p nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn anh Điểu Đ.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 164 Bộ luật Dân sự; Điều 165 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2019/HNGĐ-PT Ngày 25-4-2019 V/v “Ly hôn, nuôi con và chia tài sản khi ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khương
Thẩm phán:
Ông Bùi Văn Bình
Bà Đinh Thị Qúy Chi
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thế Huy – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh BP.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Duy Trung - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 19 ngày 25 tháng 3 và ngày 25 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý 02/2019/TLPT-HNGĐ ngày 07 tháng 01 năm 2019 về “Ly hôn, tranh ch p nuôi con và chia tài sản khi ly hôn”.
Do Bản án số 61/2018/HNGĐ-ST ngày 29 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện H bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 05/2019/QĐPT-HNGĐ ngày 25 tháng 01 năm 2019, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Thị N, sinh năm 1987
Trú tại địa chỉ: Tổ 3, p B, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước “Có mặt”.
Bị đơn: Anh Điểu Đ, sinh năm 1984
Trú tại địa chỉ: Tổ 3, p B, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước. Chỗ ở hiện nay: Tổ 4, p 2, xã A, huyện H, tỉnh Bình Phước “Có mặt”.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Điểu Đ, sinh năm 1956 “có mặt lúc xét xử vắng mặt lúc tuyên án”
Bà Thị G, sinh năm 1960 “Có mặt”.
Cùng trú tại địa chỉ: Tổ 3, p B, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước.
Chị Thị D, sinh năm 1980 “Có mặt”.
Anh Điểu Đ1 sinh năm 1977 “Có đơn xin xét xử vắng mặt”.
Cùng trú tại địa chỉ: Tổ 3, p B, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước.
Bà Phạm Thị N, sinh năm 1964. Trú tại địa chỉ: Tổ 3, p T, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước.
Người kháng cáo: Bị đơn anh Điểu Đ, sinh năm 1984.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Thị N trình bày:
Chị Thị N và anh Điểu Đ đăng ký kết hôn năm 2009 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước. Vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn từ năm 2011 và ngày càng trầm trọng hơn, từ năm 2017 anh chị đã sống ly thân đến nay. Có 02 con chung là Thị Ra N, sinh ngày 05/11/2011; Điểu Trí T, sinh ngày 11/9/2015.
Tài sản chung:
- 234 nọc tiêu trồng năm 2011; 284 nọc tiêu trồng năm 2013; 367 nọc tiêu trồng năm 2015. T t cả số cây tiêu này đều được trồng trên thửa đ t số 49, tờ bản đồ số 05, là đ t của cha mẹ chị N (ông Điểu Đ và bà Thị G). Tổng giá trị cây trồng theo Biên bản định giá ngày 14/6/2018 là 275.156.000đ, chị N đồng ý chia đôi mỗi người nhận một nửa giá trị tài sản.
- 233 nọc tiêu được trồng trên thửa đ t số 33, tờ bản đồ 02 tọa lạc tại p B, xã T, huyện H, diện tích đ t này của chị Thị D (chị gái của Thị N). Đây là số cây tiêu của cha mẹ Thị N (là ông Điểu Đ, bà Thị G), nên chị N không tranh ch p số tiêu này.
Nợ chung: Vợ chồng có vay của bà Phạm Thị N 5.000.000đ, chưa trả, chị N yêu cầu mỗi người phải trả ½ cho bà N.
Trình bày và yêu cầu của anh Điểu Đ.
Về việc đăng ký kết hôn, nguyên nhân mâu thuẩn, con chung và nợ chung anh Điểu Đ thống nh t với lời trình bày của chị N, anh Đ đồng ý ly hôn.
Về tài sản chung, anh Đ yêu cầu như sau:
+ 234 nọc tiêu trồng năm 2011; 284 nọc tiêu trồng năm 2013; 367 nọc tiêu trồng năm 2015; 01 giếng đào; 01 giếng khoan; 02 căn nhà tạm. Do tài sản nằm trên đ t của ông Điểu Đ nên đề nghị giao hết tài sản cho Thị N và Thị N trả lại cho anh một nửa giá trị tài sản bằng tiền.
Đối với thửa đ t số 168, tờ bản đồ số 02, diện tích 20.970m2 tọa lạc tại p B, xã T, huyện H, được c p cho Thị N năm 2014, trong thời kỳ hôn nhân nên là tài sản chung của vợ chồng, anh Đ yêu cầu Thị N nhận đ t và trả cho anh một nửa giá trị bằng tiền. Riêng đối với số cây điều trồng trên thửa đ t này là của ông Điểu Đ (cha chị N), anh không tranh ch p.
Đối với 233 nọc tiêu trồng trên thửa đ t số 33, tờ bản đồ 02 tọa lạc tại p B, xã T, huyện H. Số 233 nọc tiêu là tài sản chung của vợ chồng, anh Đ yêu cầu chia ½ bằng tiền. Riêng đ t là của chị Thị D nên anh Đ không tranh ch p.
Ngoài ra, vợ chồng còn có 04 bao tiêu, 09 con dê và 01 xe máy Honda nhưng anh Đ không yêu cầu chia.
Đối với khoản nợ 5.000.000đ của bà Phạm Thị N, anh Đ thống nh t mỗi người có trách nhiệm trả cho bà N 2.500.000đ.
Trình bày của ông Điểu Đ và bà Thị G:
Sau khi vợ chồng Thị N kết hôn một thời gian, ông Điểu Đ, bà G cho Thị N và anh Điểu Đ làm nhà và trồng tiêu nhờ trên thửa đ t số 49, tờ bản đồ số 05 của gia đình ông bà. Do đó, phần tài sản đang tranh ch p trên thửa đ t 49 là tài sản chung của vợ chồng Thị N, yêu cầu Tòa án xem xét chia theo quy định pháp luật. Nếu Tòa án giao phần tài sản trên cho Thị N quản lý sử dụng thì ông Đ, bà G đồng ý cho Thị N tiếp tục sử dụng.
Đối với thửa đ t số 168, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại p B, xã T, huyện H, là tài sản ông Đ, bà G cho riêng Thị N trước khi kết hôn nên là tài sản riêng của Thị N. Thực tế, ông bà chỉ cho trên gi y tờ còn vườn cây vẫn do ông bà quản lý và thu hoạch. Hơn nữa, ngày 08/12/2017 Thị N đã làm thủ tục tặng cho hợp pháp thửa đ t này cho ông Điểu Đ nên Điểu Đ yêu cầu chia là không đúng.
Đối với 233 nọc tiêu trên thửa đ t số 33, tờ bản đồ 02 tọa lạc tại p B, xã T, huyện H đứng tên chị Thị D, con gái ông Điểu Đ, số tiêu trên là do ông Đ đầu tư trồng và chăm sóc. Do đây là tài sản của gia đình ông Điểu Đ nên Điểu Đ xác định là tài sản chung của vợ chồng để yêu cầu chia thì ông Đ không đồng ý.
Trình bày của Thị D:
Chị D là chủ sử dụng thửa đ t số 33, tờ bản đồ số 02, cha mẹ chị D có trồng tiêu trên phần đ t này, sau đó, cha mẹ có giao cho Thị N và Điểu Đ khoảng 200 nọc tiêu để chăm sóc, thu hoạch nhưng không cho luôn. Tiêu trồng trên đ t là của cha mẹ, việc giải quyết như thế nào do cha mẹ quyết định, chị không có ý kiến gì về việc tranh ch p tài sản giữa Thị N và Điểu Đ.
Trình bày của bà Phạm Thị N:
Bà N có cho chị N, anh Đ vay số tiền 5.000.000đ. Chị N và anh Đ thỏa thuận mỗi người trả cho bà N số tiền 2.500.000đ thì bà N đồng ý.
Tại bản án sơ thẩm số 61/2018/HNGĐ-ST ngày 29 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện H quyết định.
Áp dụng Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 207, 227 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 51, 55, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Thị N và anh Điểu Đ. Gi y chứng nhận kết hôn số 107 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước c p ngày 20/10/2009 không còn giá trị pháp lý khi Bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Giao con chung Thị Ra N, sinh ngày 05/11/2011 cho anh Điểu Đ nuôi dưỡng; giao con Điểu Trí T, sinh ngày 11/9/2015 cho chị Thị N nuôi dưỡng. Không ai phải c p dưỡng nuôi con.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng x u đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên, khi người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về tài sản chung:
- Giao cho chị Thị N các tài sản gồm: 234 nọc tiêu trồng năm 2011; 284 nọc tiêu trồng năm 2013; 367 nọc tiêu trồng năm 2015; 01 giếng đào; 01 giếng khoan, các tài sản trên đều thuộc thửa đ t số 49, tờ bản đồ số 05, tọa lạc tại p B xã T, huyện H, đứng tên ông Điểu Đ1, tổng trị giá 278.806.000 (Hai trăm bảy mươi tám triệu tám trăm lẻ sáu ngàn đồng).
Chị Thị N có trách nhiệm trả lại cho anh Điểu Đ một nửa giá trị tài sản là 139.403.000 (Một trăm ba mươi chín triệu bốn trăm lẻ ba ngàn đồng).
- Không ch p nhận yêu cầu của anh Điểu Đ về việc chia tài sản chung là thửa đ t số 168, tờ bản đồ số 02 và 233 nọc tiêu trên thửa đ t số 33, tờ bản đồ 02 tọa lạc tại p B, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước.
- Đình chỉ một phần yêu cầu chia tài sản chung của anh Điểu Đ đối với 04 bao tiêu.
- Ghi nhận thỏa thuận của các đương sự về việc chị N và anh Đ mỗi người có trách nhiệm trả cho bà Phạm Thị N số tiền 2.500.000 (Hai triệu năm trăm ngàn đồng).
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí sơ thẩm và các chi tố tụng, quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.
Ngày 11 tháng 11 năm 2018 anh Điểu Đ kháng cáo một phần Bản án số: 61/2018/DS-ST ngày 29 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện H. Đề nghị Tòa án c p phúc thẩm sửa án sơ thẩm và yêu cầu chia đôi giá trị 233 nọc tiêu trên thửa đ t số 33, tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại p B, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước cho anh nhận giá trị ½ tài sản bằng tiền.
Đại diện viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa có ý kiến: Tại phiên tòa phúc thẩm chị N trình bày: Tiêu là do hai vợ chồng trồng nhưng dây tiêu giống, nọc tiêu, nước tưới, công thuê máy móc của cha mẹ là ông Điểu Đ, bà Thị G đầu tư cho trồng, sau đó do thương con gái nên cha mẹ đã cho luôn vợ chồng chị N và anh Đ. Như vậy, kháng cáo của anh Đ là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308, 309 BLTTDS năm 2015 ch p nhận một phần kháng cáo của anh Đ, sửa một phần Bản án sơ thẩm số 61/2018/NHGĐ-ST ngày 29 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên và các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng: Tài sản 233 nọc tiêu anh Điểu Đ cho rằng tài sản chung của vợ chồng và yêu cầu chia, nhưng số cây tiêu này được trồng trên thửa đ t số 33, tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại p B, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước do chị Thị D và anh Điểu Đ1 đứng tên trên Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số 02183 QSDĐ/3082/QĐUBH ngày 18 tháng 11 năm 2004 do UBND huyện B c p. Nhưng Tòa án c p sơ thẩm chỉ đưa chị Thị D mà không đưa anh Điểu Đ1 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là vi phạm thủ tục tố tụng. Tuy nhiên, vi phạm này đã được c p phúc thẩm khắc phục, ngày 08 tháng 4 năm 2019 Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước đã tiến hành l y lời khai của anh Điểu Đ1, anh Đ1 không khiếu nại gì đối với việc c p sơ thẩm không đưa anh Đ1 vào tham gia tố tụng, đồng ý tham gia tố tụng tại c p phúc thẩm và đề nghị xét xử xắng mặt, nên không cần thiết hủy án sơ thẩm.
. Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của anh Điểu Đ đề nghị chia cho anh Đ được hưởng ½ giá trị của 233 nọc tiêu trên thửa đ t số 33, tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại p B, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước, Hội đồng xét xử th y rằng:
Tại phiên tòa sơ thẩm cũng như phúc thẩm, vợ chồng ông Điểu Đ, bà Thị G và chị Thị D (con gái của ông Đ, bà G) đều trình bày, 233 nọc tiêu trên thửa đ t số 33, tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại p B, xã T, huyện H mà anh Điểu Đ yêu cầu chia là tài sản của vợ chồng ông Điểu Đ và bà Thị G. Riêng đối với diện tích đ t nêu trên ông Điểu Đ và bà Thị G xác định đã cho con gái và con rễ là chị Thị D và anh Điểu Đ1.
Chị Thị N trình bày, 233 nọc tiêu là do hai vợ chồng trồng, nhưng dây tiêu giống, nọc tiêu, nước tưới, công thuê máy móc là do cha mẹ chị N là ông Điểu Đ, bà Thị G đầu tư cho trồng, sau đó vì thương con gái nên cha mẹ đã cho luôn vợ chồng chị N và anh Đ.
Anh Điểu Đ trình bày, 233 nọc tiêu là do hai vợ chồng đầu tư trồng, cha mẹ chị Thị N chỉ cho mượn đ t.
. Xét, tại phiên tòa phúc thẩm chị Thị N vợ của anh Điểu Đ khẳng định: “số 233 nọc tiêu là do hai vợ chồng trồng nhưng dây tiêu giống, nọc tiêu, nước tưới, công thuê máy móc là do cha mẹ chị N là ông Điểu Đ, bà Thị G đầu tư cho trồng, sau đó vì thương con gái nên cha mẹ đã cho luôn vợ chồng chị N và anh Đ”. Xét lời trình bày này của chị N là khách quan, bởi lẽ chị N là con ruột của ông Điểu Đ và bà Thị G, giữa ông Đ, bà G với chị N không mâu thuẩn gì với nhau. Do vậy, có căn cứ để xác định tài sản là 233 nọc tiêu được trồng trên thửa đ t số 33, tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại p B, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước do chị Thị D và anh Điểu Đ1 đứng tên trên Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số 02183 QSDĐ/3082/QĐUBH ngày 18 tháng 11 năm 2004 do UBND huyện B c p là tài sản chung của vợ chồng anh Điểu Đ và chị Thị N. Tuy nhiên, do 233 nọc tiêu nêu trên của vợ chồng anh Điểu Đ và chị Thị N là tài sản gắn liền với quyền sử dụng đ t thửa đ t số 33, tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại p B, xã T, huyện H, tỉnh B mà diện tích đ t này tại phiên tòa phúc thẩm vợ chồng ông Điểu Đ, bà Thị G xác định đã cho con gái là chị Thị D và con rễ anh Điểu Đ1, thực tế anh Điểu Đ1 và chị Thị D đã được Nhà nước c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t, do đó cần giao cho vợ chồng chị Thị D và anh Điểu Đ1 được quyền sở hữu 233 nọc tiêu này và phải có nghĩa vụ thanh toán cho vợ chồng anh Điểu Đ và chị Thị N giá trị của 233 nọc tiêu này. Căn cứ theo Biên bản định giá tài sản ngày 14 tháng 6 năm 2018 của Hội đồng định giá huyện H thì 233 cây tiêu có giá là 432.000đ/1 cây, tổng giá trị của 233 cây tiêu là: 100.656.000 đồng.
. Xét nguồn gốc hình thành nên 233 nọc tiêu này là do cha mẹ chị Thị N cho dây giống, nọc tiêu, nước tưới, công thuê máy móc và cho mượn đ t để trồng sau đó mới cho vợ chồng anh Đ và chị N, như vậy cần chia cho chị N 70% tương đương số tiền là 70.460.000 đồng, chia cho anh Đức 30% tương đương 30.196.000 đồng.
Do vậy, cần ch p nhận một phần kháng cáo của anh Điểu Đ.
. Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước đề nghị Hội đồng xét xử ch p nhận một phần kháng cáo của anh Điểu Đ, sửa Bản án sơ thẩm là có căn cứ.
. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bản án sơ thẩm tuyên anh Điểu Đ chịu 6.845.150đ án phí chia tài sản chung, 300.000đ án phí cho khoản nợ của bà N. Nay do cho anh Đ được chia thêm số tiền 30.196.000đ nên anh Đ phải chịu thêm 1.509.800đ (30.196.000 đ x 5% = 1.510.000đ). Được kh u trừ vào số tiền 4.062.000 (Bốn triệu không triệu sáu mươi hai nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lại thu số 0012467 ngày 15/12/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện H.
Bản án sơ thẩm tuyên Chị Thị N chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, 6.845.150đ án phí chia tài sản chung, 300.000đ án phí cho khoản nợ của bà N. Nay do chị N được chia thêm số tiền 70.460.000đ nữa, nên chị N phải chịu thêm số tiền án phí 3.523.000đ (70.460.000đ x 5% = 3.523.000đ) đồng.
. Án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của anh Điểu Đ được ch p nhận nên anh Đ không phải chịu.
. Các phần khác của quyết định tại Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Ch p nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn anh Điểu Đ.
Sửa Bản án sơ thẩm số 61/2018/HNGĐ-ST ngày 29 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện H.
Áp dụng các điều 51, 55, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 164, 165, 177, 181, 192, 214, 219 Bộ luật dân sự năm 2005; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Ch p nhận một phần yêu cầu của anh Điểu Đ về việc chia 233 nọc tiêu trồng trên thửa đ t số 33, tờ bản đồ 02 tọa lạc tại p B, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước do chị Thị D và anh Điểu Đ1 đứng tên trên Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số 02183 QSDĐ/3082/QĐUBH ngày 18 tháng 11 năm 2004 do UBND huyện B c p.
Giao cho chị Thị D và anh Điểu Đ1 được quyền sở hữu 233 nọc tiêu được trồng trên thửa đ t số 33, tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại p B, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước.
Buộc chị Thị D và anh Điểu Đ1 hoàn trả cho anh Điểu Đ số tiền 30.196.000 (Ba mươi triệu một trăm chín mươi sáu nghìn đồng).
Buộc chị Thị D và anh Điểu Đ1 hoàn trả cho chị Thị N số tiền 70.460.000 (Bảy mươi triệu bốn trăm sáu mươi nghìn đồng).
Án phí dân sự sơ thẩm:
Anh Điểu Đ chịu 8.655.000 (Tám triệu sáu trăm năm mươi lăm nghìn đồng), được kh u trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 4.062.000đ (Bốn triệu không triệu sáu mươi hai nghìn đồng) theo Biên lại thu số 0012467 ngày 15/12/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện H. Anh Đ còn phải nộp 4.593.000 (Bốn triệu năm trăm chín mươi ba nghìn đồng).
Chị Thị N chịu 10.968.000 (Mười triệu chín trăm sáu mươi tám nghìn đồng), được kh u trừ vào 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0012395 ngày 01/11/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện H. Chị N còn phải nộp 10.668.000 (Mười triệu sáu trăm sáu mươi tám nghìn đồng).
Án phí dân sự phúc thẩm: Anh Điểu Đ không phải chịu, trả lại cho anh Điểu Đ số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0005011 ngày 13 tháng 11 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H.
Các phần khác của quyết định tại Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra Quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong t t cả các khoản tiền) nếu bên phải thi hành chậm thi hành thì hàng tháng bên phải thi hành còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi su t quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Phước; - TAND huyện H; - CCTHADS huyện H; - Các đương sự; - Lưu HSVA; - Tòa HNGĐ&NCTN. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Khương |