- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "T/C HĐTD giữa NH Việt Nam Thịnh Vường và bà Ng"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THẤT THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2019/DS-ST Ngày: 12-6-2019 V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THẤT - TP. HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Trường
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Chiến
2. Bà Nguyễn Thị Mai
- Thư ký phiên toà: Bà Tạ Thị Thịnh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thạch Thất.
- Đại diện VKSND huyện Thạch Thất tham gia phiên toà: Ông Phùng Văn Chung - Kiểm sát viên.
Trong ngày 12 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thạch Thất tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 05/2019/TLST-DS ngày 15 tháng 01 năm 2019 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2019/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 5 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2019/QĐST-DS ngày 29 tháng 5 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng; Địa chỉ: Số 89 Láng Hạ, phường Láng Hạ, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Anh T, ông Đỗ Thành Tr và ông Phạm Tuấn A (Văn bản ủy quyền số 11/2018/UQ-HĐQT ngày 02-03-2018). Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Bùi Xuân Ph, ông Tạ Quang A và ông Nguyễn Đình Tr (Văn bản ủy quyền số 2237/2018/UQ-VPB ngày 13-9-2018) – Có mặt ông Nguyễn Đình Tr.
2. Bị đơn: Bà La Thị Ng, sinh năm 1979; Địa chỉ nơi cư trú: Thôn G, xã H B, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội, vắng mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1973 (chồng của bà Ng); Địa chỉ nơi cư trú: Thôn G, xã H B, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Trong đơn khởi kiện ngày 13-9-2018 và các lời khai của Nguyên đơn là Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (sau đây gọi là Ngân hàng Thịnh Vượng) – Do người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 10-7-2017, bà La Thị Ng và Ngân hàng Thịnh Vượng cùng ký kết các thỏa thuận tín dụng gồm: “Giấy đăng ký vay tiêu dùng cá nhân, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ Ngân hàng điện tử”, “Bộ điều khoản và điều kiện về vay tiêu dùng cá nhân, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ Ngân hàng điện tử”, “Văn bản xác nhận thực hiện các điều khoản của bên vay”. Cùng ngày 10-7-2017, Ngân hàng ký xác nhận chấp thuận cho bà La Thị Ng vay tiền, nội dung thỏa thuận tín dụng cụ thể như sau:
- Số tiền bà Ng vay của Ngân hàng Thịnh Vượng là 200.000.000 đồng;
- Mục đích vay: Tiêu dùng;
- Hình thức vay: Tín chấp;
- Thời hạn vay 60 tháng, giải ngân ngày 19-7-2017;
- Lãi suất vay 30%/năm, điều chỉnh theo quy định về lãi suất của Ngân hàng.
- Kỳ trả nợ gốc, lãi định kỳ 01 tháng/lần.
Quá trình thực hiện thỏa thuận tín dụng, bà Ng đã trả cho Ngân hàng Thịnh Vượng tổng số tiền 19.701.321 đồng, trong đó: trả nợ gốc: 4.353.094 đồng; trả nợ lãi trong hạn và quá hạn: 15.348.227 đồng. Do bà Ng vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng chuyển thành nợ quá hạn từ ngày 19-11-2017 cho đến nay.
Ngân hàng Thịnh Vượng khởi kiện yêu cầu bà Ng phải thực hiện nghĩa vụ tín dụng trả cho Ngân hàng (tính đến ngày 12-6-2019) tổng số tiền: 352.247.700 đồng; Trong đó: Nợ tiền gốc 195.646.906 đồng, nợ tiền lãi trong hạn 4.960.251 đồng, nợ tiền lãi quá hạn: 138.310.950 đồng, nợ tiền phạt chậm trả: 13.329.593 đồng. Bà Ng phải tiếp tục chịu tiền lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết kể từ ngày 13-6-2019 cho đến khi trả hết nợ Ngân hàng.
2. Bị đơn bà La Thị Ng trình bày: Năm 2017, do có nhu cầu vốn nên bà có vay của Ngân hàng Thịnh Vượng số tiền 200.000.000 đồng, thời hạn vay 60 tháng, lãi suất bà không nhớ. Quá trình vay nợ bà đã trả được một phần tiền gốc và lãi cho Ngân hàng nhưng không nhớ số tiền cụ thể. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà thanh toán T bộ số tiền vay và tiền lãi, bà Ng đồng ý sẽ thanh toán toàn bộ cho Ngân hàng đến trong tháng 5-2019.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T trình bày: Năm 2017, vợ ông là bà La Thị Ng có vay của Ngân hàng Thịnh Vượng số tiền 200.000.000 đồng, mục đích vay để sử dụng chung trong gia đình. Thời hạn vay là 60 tháng, bà Ng đã trả được cho Ngân hàng Thịnh Vượng số tiền gốc, lãi cụ thể ông không biết. Trước yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, ông đề nghị Ngân hàng cho vợ chồng ông được trả dần mỗi tháng 5.000.000 đồng nợ gốc, xin miễn toàn bộ tiền lãi vì hiện tại vợ chồng ông đều đi làm thuê, kinh tế rất khó khăn.
3. Ý kiến trình bày tại phiên tòa của đương sự:
3.1. Đại diện nguyên đơn là Ngân hàng Thịnh Vượng trình bày: Ngoài nội dung yêu cầu trong đơn khởi kiện, Ngân hàng bổ sung yêu cầu buộc ông T phải đồng trách nhiệm cùng bà Ng trả nợ cho Ngân hàng bởi vợ chồng ông T, bà Ng cùng sử dụng chung khoản tiền vay này. Bà Ng có ý kiến trả hết nợ trong tháng 5-2019 nhưng vẫn không thanh toán cho Ngân hàng thêm khoản tiền nào. Đề nghị bà Ng, ông T phải thực hiện nghĩa vụ tín dụng trả cho Ngân hàng tổng số tiền còn nợ theo thỏa thuận tín dụng đã ký kết tính đến ngày 12-6-2019 (ngày xét xử sơ thẩm) với số tiền là: 339.872.955 đồng; Trong đó: Nợ tiền gốc 195.646.906 đồng, nợ tiền lãi trong hạn 4.960.251 đồng, nợ tiền lãi quá hạn: 138.310.950 đồng và tiền lãi chậm trả là 954.848 đồng [Tiền lãi trên nợ gốc chậm trả 4.960.251 đồng (x) lãi suất 10%/ năm (:) 360 ngày (x) Thời gian chậm trả tính đến ngày xét xử sơ thẩm 693 ngày (=) 954.848 đồng)].
Đề nghị bà Ng, ông T tiếp tục chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, theo mức lãi suất nợ quá hạn các bên thỏa thuận trong hợp đồng.
3.2. Bị đơn là La Thị Ng và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T vắng mặt tại phiên tòa: Không có ý kiến trình bày.
4. Đại diện Viện kiểm sát huyện Thạch Thất phát biểu ý kiến tại phiên tòa:
4.1. Về tố tụng:
- Việc chấp hành pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà La Thị Ng và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng đều vắng mặt. Do vậy, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà Ng, ông T là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
4.2. Về việc giải quyết vụ án:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, đề nghị buộc bà Ng, ông T trả cho Ngân hàng số tiền còn nợ (tính đến ngày 12-6-2019) tổng số tiền: 339.872.955 đồng; Trong đó: Nợ tiền gốc 195.646.906 đồng, nợ tiền lãi trong hạn 4.960.251 đồng, nợ tiền lãi quá hạn: 138.310.950 đồng và tiền lãi chậm trả là 954.848 đồng.
- Bị đơn phải chịu án phí có giá ngạch tương ứng với nghĩa vụ phải thanh toán theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
1. Nhận định về tố tụng:
[1.1] Quan hệ pháp luật trong vụ án là tranh chấp hợp đồng tín dụng với mục đích vay tiêu dùng trong gia đình nên việc thụ lý, giải quyết của Tòa án là đúng thẩm quyền theo quy định tại các Điều 26, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Toà án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng bị đơn là bà La Thị Ng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt bà Ng, ông T.
2. Nhận định về nội dung vụ án:
[2.1] Theo các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, đủ căn cứ kết luận: Ngày 10-7-2017, bà La Thị Ng có ký kết với Ngân hàng Thịnh Vượng các thỏa thuận tín dụng (vay tín chấp, mục đích tiêu dùng) sau: “Giấy đăng ký vay tiêu dùng cá nhân, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ Ngân hàng điện tử”, “Bộ điều khoản và điều kiện về vay tiêu dùng cá nhân, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ Ngân hàng điện tử”, “Văn bản xác nhận thực hiện các điều khoản của của bên vay”. Ngày 19-7-2017, Ngân hàng Thịnh Vượng đã giải ngân cho bà Ng vay số tiền 200.000.000 đồng, bà Ng đã trả nợ 19.701.321 đồng, trong đó: trả nợ gốc: 4.353.094 đồng; trả nợ lãi trong hạn và quá hạn: 15.348.227 đồng. Do bà Ng không trả nợ gốc và lãi theo đúng cam kết nên Ngân hàng Thịnh Vượng đã chuyển thành nợ quá hạn từ ngày 19-11-2017 cho đến nay.
[2.2] Xét tính pháp lý của các thỏa thuận tín dụng được các bên thỏa thuận ký kết, có hình thức và nội dung phù hợp quy định của pháp luật nên có hiệu lực thi hành. Xét mục đích vay và thực tế sử dụng tiền vay thì ông Nguyễn Văn T (chồng bà Ngát) phải đồng chịu trách nhiệm cùng người vay là bà La Thị Ng trả cho Ngân hàng khoản vay này. Ngân hàng Thịnh Vượng khởi kiện yêu cầu bà La Thị Ng, ông Nguyễn Văn T phải có nghĩa vụ trả tiền nợ gốc, tiền lãi trên nợ gốc trong hạn, tiền lãi trên nợ gốc quá hạn và tiền lãi chậm trả trên tiền lãi trên nợ gốc trong hạn là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Theo đó, buộc bà La Thị Ng và ông Nguyễn Văn T phải trả cho Ngân hàng Thịnh Vượng số tiền còn nợ (tính đến ngày 12-6-2019) tổng số tiền: 339.872.955 đồng; Trong đó: Nợ tiền gốc 195.646.906 đồng, nợ tiền lãi trong hạn 4.960.251 đồng, nợ tiền lãi quá hạn: 138.310.950 đồng và tiền lãi chậm trả là 954.848 đồng.
[2.3] Về án phí: Bà Ng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền 16.994.000 đồng. Hoàn trả Ngân hàng Thịnh Vượng số tiền 6.223.000 đồng theo quy định tại Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thất tại phiên tòa về nội dung vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 227, 228, 147, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ các Điều 40, 357, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng: Buộc bà La Thị Ng, ông Nguyễn Văn T phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng số tiền còn nợ theo thỏa thuận tín dụng tính đến ngày 12-6-2019 là 339.872.955 đồng (gồm: nợ gốc: 195.646.906 đồng, nợ tiền lãi trong hạn trên nợ gốc: 4.960.251, nợ tiền lãi quá hạn trên nợ gốc: 138.310.950 đồng, nợ lãi chậm trả: 954.848 đồng).
2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 13-6-2019) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án là bà La Thị Ng, ông Nguyễn Văn T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết.
3. Án phí: Bà La Thị Ng, ông Nguyễn Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền 16.994.000 đồng. Hoàn trả Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng số tiền 6.223.000 đồng (Theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001268 ngày 14-01-2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thất).
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Toà án nhân dân TP Hà Nội; - VKSND huyện Thạch Thất (02 bản); - Chi cục THADS huyện Thạch Thất; - Hồ sơ vụ án; - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Tiến Trường |