- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng TMCP K-Võ Thị Mỹ N"
- Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần K đối với chị Võ Thị Mỹ N.
- Căn cứ chính? Điều 116 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 08/2019/DS-ST Ngày: 09-4-2019 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG- TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Duy Khang.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Hữu Phúc.
Bà Phan Thị Bé Sáu.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Bảo Tâm – Thư ký Toà án nhân dân huyện Tam Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông tham gia phiên toà: Không có.
Ngày 09/4/2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tam Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 266/2018/TLST-DS ngày 10 tháng 10 năm 2018 về việc“Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2019/QĐST-DS, ngày 07 tháng 03 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 03/2019/QĐST-DS ngày 22/3/2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng thƣơng mại cổ phần K
Trụ sở chính: P. V, TP. R, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Trần Tuấn A – Tổng Giám Đốc
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Ngô Văn Q, sinh năm: 1976 - Giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần K – Chi nhánh Đ.
Địa chỉ liên hệ: Phường U, Thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Chị Võ Thị Mỹ N, sinh năm: 1996.
Địa chỉ: Ấp F, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Ông Q có mặt. Chị Mỹ N vắng mặt tại phiên tòa (lần thứ hai không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện và trong quá trình xét xử, ông Ngô Văn Q là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Theo đơn khởi kiện Ngân hàng thương mại cổ phần K yêu cầu chị Võ Thị Mỹ N phải trả cho ngân hàng số tiền vay còn nợ là 548.414.650đ (tiền gốc theo hợp đồng tín dụng số 415/HĐTD/0600-224726 ký ngày 13/6/2017 là 500.000.000đ). Ngân hàng yêu cầu tiếp tục tính lãi số tiền trên kể từ ngày 02/8/2018 cho đến khi thanh toán hết nợ. Đồng thời ngân hàng thương mại cổ phần K yêu cầu chị Võ Thị Mỹ N chịu toàn bộ tiền án phí và các chi phí tố tụng khác có liên quan đến vụ án.
Tại phiên tòa hôm nay, Ngân hàng thương mại cổ phần K yêu cầu chị Võ Thị Mỹ N phải có trách nhiệm trả tiền gốc và lãi tính đến ngày 09/4/2019 cụ thể như sau:
+ Tiền vốn vay gốc theo hợp đồng tín dụng là 500.000.000đ.
+ Tiền lãi trong hạn chưa trả 36.098.630đ.
+ Tiền lãi phạt chậm trả 3.733.324đ.
+ Tiền lãi quá hạn 67.459.315đ.
Tổng cộng vốn và lãi là 607.291.269đ.
Đồng thời, tiếp tục tính lãi phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số: 415/17/HĐTD/0600-224726 từ ngày 10/4/2019 cho đến khi thanh toán xong tất cả các khoản nợ.
Đối với hợp đồng thế chấp Ngân hàng thương mại cổ phần K không yêu cầu giải quyết.
- Bị đơn chị Võ Thị Mỹ N vắng mặt tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét thấy:
Ngân hàng thương mại cổ phần K yêu cầu chị Võ Thị Mỹ N trả số tiền vay còn nợ là vụ án dân sự và bị đơn có hộ khẩu thường trú tại xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nên theo khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án nhân dân huyện Tam Nông có thẩm quyền giải quyết vụ án.
Bị đơn chị Võ Thị Mỹ N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên xét xử vắng mặt chị Mỹ N là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa hôm nay, Ngân hàng thương mại cổ phần K yêu cầu chị Võ Thị Mỹ N phải có trách nhiệm trả tiền gốc và lãi tính đến ngày 09/4/2019 là 607.291.269đ. Đồng thời, tiếp tục tính lãi phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số: 415/17/HĐTD/0600-224726 từ ngày 10/4/2019 cho đến khi thanh toán xong tất cả các khoản nợ.
Căn cứ để Ngân hàng thương mại cổ phần K yêu cầu là các hợp đồng tín dụng, giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ có chữ ký của chị Võ Thị Mỹ N. Ngoài ra, còn có hợp đồng thế chấp tài sản được Công chứng tại Phòng Công chứng số 1 tỉnh Đồng Tháp. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã gửi các văn bản tố tụng đúng theo quy định cho chị Mỹ N, chị đã biết về việc khởi kiện của Ngân hàng tuy nhiên chị Mỹ N không đến Tòa án để giải quyết cũng như không có văn bản trình bày ý kiến phản đối yêu cầu của Ngân hàng. Do đó, có đủ cơ sở xác định chị Mỹ N có ký kết hợp đồng tín dụng với Ngân hàng K. Các khoản vay hiện nay đã quá hạn nhưng chị Mỹ N chưa thanh toán cho Ngân hàng, vì vậy yêu cầu của Ngân hàng tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với hợp đồng thế chấp Ngân hàng thương mại cổ phần K không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Do yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần K được chấp nhận nên chị Võ Thị Mỹ N phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 116, 463, 466 Bộ luật dân sự;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 3, khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng khoản 2, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần K đối với chị Võ Thị Mỹ N.
2/ Buộc chị Võ Thị Mỹ N có trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần K số tiền gốc theo hợp đồng tín dụng số 415/HĐTD/0600-224726 ngày 13/6/2017 là 500.000.000đ, tiền lãi là 107.291.269đ; tổng cộng là 607.291.269đ (Sáu trăm lẻ bảy triệu hai trăm chín mươi một nghìn hai trăm sáu mươi chín đồng).
Chị Võ Thị Mỹ N còn phải chịu lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng số: 415/17/HĐTD/0600-224726 từ ngày 10/4/2019 cho đến khi thanh toán xong số tiền vay.
3/ Về án phí:
Chị Võ Thị Mỹ N có trách nhiệm nộp 28.291.000đ (Hai mươi tám triệu hai trăm chín mươi một nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Ngân hàng thương mại cổ phần K được nhận lại 12.968.000đ (Mười hai triệu chín trăm sáu mươi tám nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001693, quyển số 0000034 ngày 09/10/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Nông.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án.
Án xử công khai, có mặt nguyên đơn. Báo cho nguyên đơn được biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay. Đối với bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
| Nơi nhận: - Phòng GĐKT Toà án Tỉnh; - VKSND huyện Tam Nông; - Chi cục THADS H. Tam Nông; - Các đương vụ trong vụ án; - Lưu hồ sơ, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Duy Khang |