- Tranh chấp gì? Tranh chấp về mua bán hàng hóa — án kinh doanh thương mại — "Mua bán tài sản"
- Tòa quyết gì? 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 266; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24 Luật Thương mại
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án: 08/2018/KDTM-ST Ngày: 27-6-2018 V/v tranh chấp: “Hợp đồng mua bán tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hữu Nghĩa.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Thái Công Sết.
2. Ông Võ Thái Quân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Hoàng – Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang tham gia
phiên tòa: Bà Đỗ Thị Bạch Tuyết – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2018, tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An
Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 177/2017/TLST-DS ngày 25 tháng
7 năm 2017 về tranh chấp “Hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án
ra xét xử số: 78/2018/QĐXX-ST, ngày 09 tháng 5 năm 2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Nguyên Khang.
Địa chỉ: 227A, ấp Bình An, xã Bình Thành, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:
1.1. Bà Đinh Thị Loan; địa chỉ: 227A, ấp Bình An, xã Bình Thành, huyện Lấp
Vò, tỉnh Đồng Tháp; là người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn (Chủ tịch
Công ty kiêm Giám đốc).
1.2. Anh Nguyễn Thành Năng, sinh năm 1988; địa chỉ: Tổ 02, ấp Mỹ Trung,
xã Mỹ An, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang; là người đại diện theo ủy quyền của
nguyên đơn; đại diện theo Giấy ủy quyền ngày 28/4/2017); có mặt.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Trung Hiếu, sinh năm 1988; địa chỉ: Tổ 09, ấp Phú
Trung, xã Phú Thành, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 11/4/2017 và tại phiên tòa đại diện nguyên đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại dịch vụ Nguyên Khang trình bày:
Vào năm 2015, Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Nguyên Khang
(Công ty Nguyên Khang) có bán Xi Măng số lượng lớn cho anh Nguyễn Trung Hiếu bán lại để kiếm lời. Thời gian đầu anh Hiếu thanh toán đầy đủ nhưng sau đó anh Hiếu không thực hiện nghĩa vụ đúng hạn. Đến ngày 19/4/2016, anh Hiếu ký và ghi rõ họ tên xác nhận Bảng đối chiếu công nợ còn nợ Công ty Nguyên Khang số tiền là 32.700.000 đồng. Sau đó, Công ty Nguyên Khang nhiều lần cử nhân viên gặp trực tiếp anh Hiếu để yêu cầu thanh toán nợ, tính đến ngày 22/8/2016 anh Hiếu đã thanh toán nhiều lần được số tiền 5.200.000 đồng thì ngưng. Vì vậy, nay Công ty Nguyên Khang yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Hiếu có nghĩa vụ thanh toán tiếp cho Công ty Nguyên Khang số nợ còn lại là 27.500.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.
Tại kết luận giám định số 73/KLGT-PC54 ngày 26/01/2018 của Phòng kỹ
thuật hình sự Công an tỉnh An Giang kết luận không đủ cơ sở kết luận giám định chữ ký và chữ viết họ tên Nguyễn Trung Hiếu có phải do cùng một người ký và viết ra hay không.
Ngày 27/6/2018, đại diện Công ty Nguyên Khang cung cấp bản sao Giấy
chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số: 52.E8005917 Đăng ký lần đầu ngày 20/4/2012 của Phòng Tài chính Kế hoạch huyện Phú Tân cấp cho anh Nguyễn Trung Hiếu chứng minh anh Hiếu có đăng ký kinh doanh ngành nghề mua bán vật liệu xây dựng.
Anh Hiếu đã được tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án nhưng vẫn không
gửi văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án đã triệu tập anh Hiếu đến tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải đến lần thứ hai và triệu tập đến tham dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng anh vẫn vắng mặt, không rõ lí do. Tại phiên tòa kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật về tố tụng, về nội dung của Tòa án như sau:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy
định về thụ lý vụ án, thẩm quyền giải quyết, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách đương sự, bảo đảm quyền và nghĩa vụ của các bên đương sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định; tuy nhiên bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không ghi nhận được ý kiến. Qua cho thấy ý thức chấp hành pháp luật tố tụng dân sự của bị đơn chưa tốt.
Giữa công ty TNHH Nguyên Khang (có đăng ký kinh doanh mã số doanh
nghiệp 1401178881) với anh Nguyễn Trung Hiếu phát sinh tranh chấp dân sự về
hợp đồng mua bán tài sản. Tuy nhiên, tại phiên tòa phía nguyên đơn có cung cấp
giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của anh Hiếu, nên thay đổi quan hệ tranh
chấp từ dân sự sang kinh doanh thương mại.
Về nội dung: Công ty Nguyên Khang khởi kiện yêu cầu anh Hiếu phải trả số
nợ 27.500.000 đồng căn cứ bản kết toán công nợ và các chứng từ ghi sổ giao nhận
và thanh toán tiền đều có chữ ký của anh Hiếu. Tuy kết quả giám định của Phòng
kỹ thuật hình sự công an tỉnh An Giang kết luận không đủ cơ sở kết luận chữ ký và
chữ viết trong bảng đối chiếu công nợ là của anh Hiếu. Nhưng căn cứ theo hồ sơ và
các chứng cứ giao nộp của nguyên đơn, cũng có căn cứ xác định giữa anh Hiếu và
công ty Nguyên Khang có mua bán với nhau. Quá trình giải quyết vụ án anh Hiếu
đều vắng mặt theo các giấy triệu tập của Tòa án mặc dù Tòa án đã tống đạt được
thông báo thụ lý vụ án do chính anh Hiếu nhận, nhưng anh vẫn không đến tòa án
ghi nhận ý kiến. Nên căn cứ vào chứng cứ có tại hồ sơ đề nghị xem xét chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giành quyền kháng cáo cho bị đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận
định:
Về tố tụng:
Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại dịch vụ Nguyên Khang khởi kiện
yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Nguyễn Trung Hiếu thanh toán số tiền mua Xi
Măng còn nợ, tại phiên tòa Công ty Nguyên Khang đã chứng minh được anh Hiếu
có đăng ký kinh doanh ngành nghề vật liệu xây dựng nên quan hệ tranh chấp của
vụ án là tranh chấp “Hợp đồng mua bán tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 30
Anh Nguyễn Trung Hiếu với tư cách là bị đơn trong vụ án có nơi cư trú tại ấp
Phú Trung, xã Phú Thành, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang nên căn cứ theo quy định
tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015
thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
Anh Hiếu đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt
tại phiên tòa. Xét thấy, sự vắng mặt của anh không làm ảnh hưởng đến quyền lợi
của anh và không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Tòa án đưa vụ án
ra xét xử vắng mặt anh là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ
luật Tố tụng Dân sự. [2] Về nội dung:
Xét thấy, vào năm 2015 giữa Công ty Nguyên Khang và anh Hiếu có giao
dịch mua bán xi măng nhiều lần, đến ngày 19/4/2016 hai bên đã đối chiếu công nợ. Công ty Nguyên Khang đã cung cấp chứng cứ là “Bảng đối chiếu công nợ” ngày 19/4/2016 nội dung anh Hiếu còn nợ số tiền là 32.700.000 đồng. Tính đến ngày 22/8/2016 anh Hiếu đã thanh toán nhiều lần cho Công ty Nguyên Khang tổng số tiền là 5.200.000 đồng.
Anh Hiếu đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án nhưng anh không
gửi cho Tòa án văn bản ghi ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng không đến tham dự phiên tòa để đối chiếu nợ. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn xác định giữa hai bên đã giao dịch mua bán nhiều lần, sau khi ký xác nhận công nợ anh Hiếu cũng đã thanh toán cho nguyên đơn được một phần nghĩa vụ. Như vậy, việc ký kết các hợp đồng mua bán giữa các đương sự là có thật, hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 3, Điều 24 của Luật Thương mại. Do đó, các bên phải có nghĩa vụ thực hiện đúng các thỏa thuận theo hợp đồng ký kết. Tại Điều 50 Luật Thương mại quy định:
“1. Bên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền mua hàng và nhận hàng theo thỏa
thuận.
2. Bên mua phải tuân thủ các phương thức thanh toán, thực hiện việc thanh
toán theo trình tự, thủ tục đã thỏa thuận và theo quy định của pháp luật.
3. Bên mua vẫn phải thanh toán tiền mua hàng trong trường hợp hàng hoá
mất mát, hư hỏng sau thời điểm rủi ro được chuyển từ bên bán sang bên mua, trừ trường hợp mất mát, hư hỏng do lỗi của bên bán gây ra.”
Bên bán là Công ty Nguyên Khang đã thực hiện nghĩa vụ giao hàng cho bên
mua là anh Hiếu nhưng anh Hiếu chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả tiền cho Công ty Nguyên Khang. Do đó, Công ty Nguyên Khang khởi kiện yêu cầu anh Hiếu thanh toán số tiền còn nợ 27.500.000 đồng là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử (HĐXX) chấp nhận.
Công ty Nguyên Khang không yêu cầu tính lãi nên HĐXX không xem xét.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. [3] Án phí, chi phí tố tụng:
Án phí: Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí
Tòa án thì:
Yêu cầu của Công ty Nguyên Khang được Tòa án chấp nhận nên Công ty
Nguyên Khang không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Công ty
Nguyên Khang số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 700.000 đồng (bảy trăm nghìn
đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0016055 ngày 21/7/2017 của
Chi Cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
Anh Hiếu phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ trả nợ là:
27.500.000 x 5% = 1.375.000 đồng (một triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).
Chi phí tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên anh
Hiếu phải chịu chi phí giám định là 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng). Do
Công ty Nguyên Khang đã nộp đủ số tiền này nên anh Hiếu phải hoàn trả lại Công
ty Nguyên Khang.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 30; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều
147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 266; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân
sự 2015;
- Khoản 1 Điều 3, Điều 24, Điều 50 của Luật Thương mại 2005;
- Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015;
- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Công ty trách
nhiệm hữu hạn một thành viên Nguyên Khang đối với bị đơn là ông Nguyễn Trung
Hiếu.
Buộc anh Hiếu phải thanh toán cho Công ty Nguyên Khang số tiền là
27.500.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối
với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án
xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản
tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2
Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Án phí, chi phí tố tụng:
Công ty Nguyên Khang không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho
Công ty Nguyên Khang số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 700.000 đồng (bảy trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0016055 ngày 21/7/2017 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
Anh Hiếu phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ trả nợ là
1.375.000 đồng (một triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).
Chi phí tố tụng: Anh Hiếu phải chịu chi phí giám định là 800.000 đồng. Do
Công ty Nguyên Khang đã nộp đủ số tiền này nên anh Hiếu phải hoàn trả lại cho Công ty Nguyên Khang.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự ; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh AG; - VKSND huyện Phú Tân; - Các đương sự (để thi hành); - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hữu Nghĩa |