- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "ngân hàng TMCP X - Lương Văn C "tranh chấp hợp đồng tín dụng""
- Tòa quyết gì? 1. Buộc ông Nguyễn Văn C1 và bà Nguyễn Thị H phải trả cho Ngân hàng TMCP X số tiền theo Hợp đồng tín dụng số 01/2017/9236387/HĐTD ngày 09/8/2017 tạm tính đến ngày 19/10/2018 là 275.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2018/KDTM-ST Ngày 19 tháng 10 năm 2018 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngọ Thị Thanh Hảo.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Huệ.
2. Bà Nguyễn Thị Vượng
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Thế Đức - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 19 tháng 10 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 18/2018/TLST-KDTM ngày 05 tháng 07 năm 2018 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2018/QĐXX-ST ngày 14 tháng 9 năm 2018, giữa các đương sự:
+ Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP X
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Đức T - Tổng Giám đốc
Địa chỉ: số A, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn K - Giám đốc Ngân hàng TMCP X - Chi nhánh Bắc Giang. Theo Quyết định ủy quyền số 8695/QĐ-BIDV ngày 28/10/2016 của Tổng Giám đốc - Ngân hàng TMCP X
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Đỗ Văn C - Giám đốc phòng giao dịch L - Ngân hàng TMCP X, chi nhánh Bắc Giang. Theo Quyết định ủy quyền tham gia tố tụng số 070/QĐ-QLRR ngày 18/5/2018 của Giám đốc Ngân hàng TMCP X - Chi nhánh Bắc Giang
Địa chỉ: Ngân hàng TMCP X, chi nhánh Bắc Giang, số N, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt)
+ Bị đơn: Ông Nguyễn Văn C1, sinh năm 1982
Địa chỉ: Thôn C, xã B, huyện H, tỉnh Bắc Giang. (Vắng mặt)
+ Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1982
Địa chỉ: Thôn C, xã B, huyện H, tỉnh Bắc Giang. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
+ Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, những lời khai tiếp theo và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Đỗ Văn C trình bày: Ông là đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng giải quyết việc kiện tại Tòa án theo Quyết định ủy quyền số 070/QĐ-QLRR ngày 18/5/2018 của Giám đốc Ngân hàng TMCP X, chi nhánh Bắc Giang.
Ông Nguyễn Văn C1 có ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng thương mại cổ phần X - chi nhánh Bắc Giang - Phòng Giao dịch L số hợp đồng 01/2017/9236387/HĐTD ngày 09/8/2017. Số tiền vay là 250.000.000 đồng; lãi suất vay là 9,5%/năm; Mục đích vay là kinh doanh sản xuất đồ mộc; Thời hạn vay là 08 tháng kể từ ngày 09/8/2017. Hạn trả nợ 09/4/2018. Phương thức trả nợ: tiền gốc trả cuối kỳ, tiền lãi trả trả vào ngày 25 hàng tháng.
Để bảo đảm tiền vay trên, ông C1 có thế chấp tài sản quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thửa đất số 9, tờ bản đồ số 80, diện tích 318,6 m2 địa chỉ thửa đất tại thôn C, xã B, huyện H, tỉnh Bắc Giang, đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU 584467, do UBND huyện H cấp ngày 02/10/2014 cho ông Nguyễn Văn C1. Theo hợp đồng thế chấp tài sản số 01/2016/9236387/HĐBĐ ngày 25/11/2016
Ông C1 đã trả lãi Ngân hàng hết tháng 12/2017, do ông C1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán gốc và lãi cho Ngân hàng. Nay Ngân hàng khởi kiện ông C1 và bà H phải có trách nhiệm trả nợ Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 27/8/2018 là 270.496.576 đồng, trong đó số tiền gốc là 250.000.000 đồng; Tiền lãi là 15.941.781 đồng; Phí trả chậm là 4.554.795 đồng. Trường hợp ông C1 bà H không trả được nợ thì Ngân hàng đề nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phát mại tài sản đã thế chấp trên. Tài sản thế chấp của ông C1 từ khi ký hợp đồng thế chấp đến nay không có gì thay đổi, tài sản vẫn giữ nguyên.
Tại phiên tòa hôm nay, Ngân hàng vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ông Nguyễn Văn C1 và bà Nguyễn Thị H phải trả cho Ngân hàng số tiền tạm tính đến ngày 19/10/2018 là 275.669.521 đồng, trong đó tiền gốc là 250.000.000 đồng và tiền lãi là 25.669.521 đồng. Trường hợp ông C1 bà H không trả được nợ thì Ngân hàng đề nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phát mại tài sản đã thế chấp. Theo hợp đồng thế chấp tài sản số 01/2016/9236387/HĐBĐ ngày 25/11/2016.
+ Tòa án đã tiến hành giao thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập và thông báo về phiên hòa giải cho ông Nguyễn Văn C1 và bà Nguyễn Thị H đúng theo quy định của pháp luật, nhưng ông C1, bà H không đến Tòa án để viết bản tự khai và hòa giải.
+ Tòa án đã tiến hành mở phiên họp về việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần, nhưng không hòa giải được vì ông C1, bà H vắng mặt không có lý do.
+ Ngày 10/8/2018, Tòa án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thửa đất số 9, tờ bản đồ số 80, diện tích 318,6 m2 địa chỉ thửa đất tại thôn C, xã B, huyện H, tỉnh Bắc Giang , đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU 584467, do UBND huyện H cấp ngày 02/10/2014 cho ông Nguyễn Văn C1. Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ thì đất và tài sản gắn liền với đất không thay đổi so với thời điểm ký hợp đồng thế chấp tài sản, diện tích đất đúng như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đã được cấp, trên đất có ba gian nhà cấp bốn và công trình phụ.
+ Tòa án đã thông báo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ cho các đương sự nhưng không ai có ý kiến gì.
+ Ngày 02/10/2018, Tòa án hoãn phiên tòa vì bị đơn là ông Nguyễn Văn C1 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị H vắng mặt lần thứ nhất không có lý do.
+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B phát biểu:
- Ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý, giải quyết và xét xử vụ án. Nguyên đơn chấp hành theo đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chưa chấp hành đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng buộc ông Nguyễn Văn C1 và bà Nguyễn Thị H phải trả cho Ngân hàng TMCP X số tiền tạm tính đến ngày 19/10/2018 là 275.669.521 đồng, trong đó tiền gốc là 250.000.000 đồng, tiền lãi là 25.669.521đồng. Trường hợp ông C1, bà H không trả được nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền phát mại các tài sản thế chấp của ông C1 theo hợp đồng thế chấp tài sản đã ký. Ông Nguyễn Văn C1 và bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí và chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Theo như đơn khởi kiện và xác minh tại địa phương thì ông Nguyễn Văn C1 có địa chỉ tại thôn C, xã B, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05 tháng 5 năm 2017, thì: “...Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú, trụ sở mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che dấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện thì Thẩm phán không trả lại đơn khởi kiện mà xác định người bị kiện, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cố tình dấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung...”. Ông C1 không có mặt tại địa phương và không thông báo địa chỉ cho Ngân hàng là cố tình dấu địa chỉ, còn bà H có mặt tại địa phương nhưng không nhận các thông báo của Tòa án. Tòa án thành phố B đã niêm yết toàn bộ giấy tờ và Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn là ông Nguyễn Văn C1 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị H đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Tòa án xét xử vắng mặt ông C1, bà H là phù hợp với quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp thì thấy: Quan hệ tranh chấp giữa Ngân hàng TMCP X và ông Nguyễn Văn C1 là quan hệ kinh doanh thương mại giữa cá nhân có đăng ký kinh doanh với pháp nhân có đăng ký kinh doanh. Ông Nguyễn Văn C1 có ký hợp đồng tín dụng số 01/2017/9236387/HĐTD ngày 09/8/2017 với Ngân hàng TMCP X vay số tiền 250.000.000 đồng, mục đích vay là để trả tiền mua đồ gỗ các loại. Thời hạn vay là 08 tháng kể. Thời hạn trả nợ cuối cùng là ngày 09/4/2018. Phương thức thanh toán là lãi trả vào ngày 25 hàng tháng bắt đầu từ ngày 25/8/2017, gốc trả ngày 09/4/2018, từ tháng 01 năm 2018, ông C1 vi phạm thời hạn trả tiền gốc và tiền lãi, nên Ngân hàng làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án thành phố B giải quyết, Tòa án nhân dân thành phố B giải quyết là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm g khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Đối với yêu cầu buộc ông Nguyễn Văn C1 và bà Nguyễn Thị H thanh toán số tiền gốc và lãi phát sinh từ hợp đồng tín dụng số 01/2017/9236387/HĐTD ngày 09/8/2017 thì thấy: Ngân hàng TMCP X có giải ngân cho ông C1 vay số tiền 250.000.000 đồng, thời hạn vay 08 tháng, lãi suất 9,5%. Kỳ hạn trả nợ gốc: Gốc trả một lần vào cuối kỳ; Kỳ hạn trả lãi: Lãi trả vào ngày 25 hàng tháng, ngày trả nợ cuối cùng là ngày 09/4/2018. Số tiền tạm tính đến ngày 19/10/2018, ông C1 còn nợ Ngân hàng là 275.669.521đồng, trong đó tiền gốc là 250.000.000 đồng, tiền lãi là 25.669.521đồng. Đến tháng 1 năm 2018 ông C1 không trả được tiền lãi cho Ngân hàng, do vậy ông C1 vi phạm Mục 7 của Hợp đồng tín dụng số 01/2017/9236387/HĐTD ngày 09/8/2017, Ngân hàng khởi kiện ông C1 là phù hợp với Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng. Ông C1 vay tiền để kinh doanh, phục vụ kinh tế chung của gia đình, bà Nguyễn Thị H là vợ ông C1, ông C1 và bà H đang sống cùng một nhà, vì vậy bà H phải có trách nhiệm liên đới trả khoản nợ mà ông C1 còn nợ Ngân. Ngân hàng yêu cầu ông C1 và bà H phải có trách nhiệm trả số nợ theo Hợp đồng tín dụng trên là phù hợp với quy định tại Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình.
Đối với yêu cầu phát mại tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thửa đất số 9, tờ bản đồ số 80, diện tích 318,6 m2 địa chỉ thửa đất tại thôn C, xã B, huyện H, tỉnh Bắc Giang , đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU 584467, do UBND huyện H cấp ngày 02/10/2014 cho ông Nguyễn Văn C1 thì thấy: Ngày 25/11/2016 ông Nguyễn Văn C1 ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba số 01/2016/9236387/HĐBĐ, với nội dung ông C1 dùng tài sản là quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thửa đất số 9, tờ bản đồ số 80, diện tích 318,6 m2 địa chỉ thửa đất tại thôn C, xã B, huyện H, tỉnh Bắc Giang , đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU 584467, do UBND huyện H cấp ngày 02/10/2014 cho ông Nguyễn Văn C1 để đảm bảo cho việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ của Bên thế chấp đối với Ngân hàng phát sinh từ tất cả các hợp đồng tín dụng...trong khoảng thời gian từ ngày 25/11/2016 đến ngày 25/11/2021. Hợp đồng được Văn phòng công chứng X chứng nhận số 2558/2016, quyển số: 11TP/CC-SCC/HĐGĐ ngày 25/11/2016. Các bên tiến hành các thủ tục thế chấp đúng theo quy định của pháp luật. Hợp đồng tín dụng số 01/2017/9236387/HĐTD ngày 09/8/2017 ký giữa Ngân hàng X với ông Nguyễn Văn C1 trong thời hạn của Hợp đồng thế chấp trên. Do vậy Hội đồng xét xử chấp nhận đối với yêu cầu của Ngân hàng là phù hợp với thỏa thuận của các bên tại Hợp đồng thế chấp số 01/2016/9236387/HĐBĐ ngày 25/11/2016 và phù hợp với Điều 342, Điều 355 Bộ luật dân sự năm 2005.
Về án phí: Yêu cầu của Ngân hàng TMCP X được chấp nhận, do vậy ông Nguyễn Văn C1 và bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự là phù hợp với quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Về chi phí tố tụng: Đối với số tiền xem xét thẩm định tại chỗ Ngân hàng đã nộp là 2.000.000 đồng, yêu cầu của Ngân hàng là có căn cứ, do vậy ông C1 và bà H phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm g khoản 1 Điều 40; Điều 147; Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 323; Điều 342; Điều 355 của Bộ luật Dân sự năm 2005. Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng. Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
2. Xử:
2.1. Buộc ông Nguyễn Văn C1 và bà Nguyễn Thị H phải trả cho Ngân hàng TMCP X số tiền theo Hợp đồng tín dụng số 01/2017/9236387/HĐTD ngày 09/8/2017 tạm tính đến ngày 19/10/2018 là 275.669.521 đồng (hai trăm bảy mươi lăm triệu sáu trăm sáu mươi chín nghìn lăm trăm hai mươi một đồng), trong đó số tiền nợ gốc là 250.000.000 đồng, số tiền nợ lãi là 25.889.521 đồng.
2.2. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 01/2017/9236387/HĐTD ngày 09/8/2017 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng số 01/2017/9236387/HĐTD ngày 09/8/2017, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
2. 3. Trường hợp ông Nguyễn Văn C1 và bà Nguyễn Thị H không trả được nợ cho Ngân hàng thì phải chịu các biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật kể cả việc phát mại các tài sản đã thế chấp là quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thửa đất số 9, tờ bản đồ số 80, diện tích 318,6 m2 địa chỉ thửa đất tại thôn C, xã B, huyện H, tỉnh Bắc Giang, đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU 584467, do UBND huyện H cấp ngày 02/10/2014 cho ông Nguyễn Văn C1. Theo Hợp đồng thế chấp số 01/2016/9236387/HĐBĐ ngày 25/11/2016.
2.4. Về án phí: Ông Nguyễn Văn C1 và bà Nguyễn Thị H phải chịu 13.783.476 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả Ngân hàng TMCP X số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 6.620.000 đồng theo biên lai số AA/2018/0001038 ngày 05/7/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
2.5. Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Văn C1 và bà Nguyễn Thị H phải chịu 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ. Ngân hàng TMCP X được nhận lại số tiền này khi ông Nguyễn Văn C1 và bà Nguyễn Thị H nộp.
2.6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
2.7. Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2- Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a, 7b và 9 - Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận : - VKSND TP B; - Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang; - Chi cục THA dân sự thành phố B; - Các đương sự; - Lưu HS, VP | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà Ngọ Thị Thanh Hảo |