vanban.org

Bản án 08/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng Tuyên án 20/07/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Sầm Minh N và Triệu Quang H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Điểm b,c khoản 2 Điều 173; điểm r,s khoản 1 Điều 51; điểm h,g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Sầm Minh N 04 ( bốn) năm 06 ( sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt 28/12/2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Sầm Minh N và Triệu Quang H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Sầm Minh N và Triệu Quang H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2018/HSST
Ngày 20/7/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Văn Sơn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Đại Tiến

Ông Lý Đức Thà

- Thư ký phiên tòa: Ông Chu Văn Duy, Thư ký Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Cao Bằng, tham gia

phiên tòa: Bà Hoàng Minh Hương, Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Cao Bằng, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 08/2018/HSST ngày 16 tháng 5 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2018/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 7 năm 2018 đối với các bị cáo:

1. Sầm Minh N, sinh ngày 16 tháng 8 năm 1997, tại: Xóm N, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Nơi cư trú: Xóm N, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: Không nghề nghiệp; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Sầm Ngọc Q và bà Lý Thị Ph; vợ, con: Chưa có; nhân thân: tiền án: Có 02 tiền án. Bản án số: 09/2016/HSST, ngày 23/11/2016, bị Toà án nhân dân huyện H, tỉnh cao Bằng xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bản án số: 02/2016/HSST, ngày 08/11/2016 bị Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tiền sự: không

Bị cáo bị bắt từ ngày 28/12/2017, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ, tạm giam Công an huyện H, tỉnh Cao Bằng, có mặt tại phiên tòa.

2. Triệu Quang H, sinh ngày 26 tháng 6 năm 1999, tại: Xóm K, xã Đ,

huyện H, tỉnh Cao Bằng. Nơi cư trú: Xóm K, xã Đ, huyện H, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: Không nghề nghiệp; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Con ông Triệu Quang H và bà Lê Thị B; vợ, con chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “ Cấm đi khỏi nơi cư trú” có mặt tại phiên tòa

- Bị hại:

1. Hoàng Văn Th, sinh năm 1999, có mặt.

Trú tại: Xóm L, xã V, huyện H, tỉnh Cao Bằng.

2. Dương Chí X, sinh năm 1974, có mặt.

Trú tại: Xóm L, xã P, huyện H, tỉnh Cao Bằng.

3. Nông Thị M, sinh năm 1959, có mặt.

Trú tại: Xóm C, xã N, huyện H A, tỉnh Cao Bằng.

4. Hoàng Thị N, sinh năm 1991, có mặt.

Trú tại: Xóm L, xã M, huyện H, tỉnh Cao Bằng.

5. Lý Đức L, sinh năm 1998, có mặt.

Trú tại: Xóm B, xã Q, huyện H, tỉnh Cao Bằng.

6. Vi Thuý H, sinh năm 1991, vắng mặt. Người đại diện theo ủy quyền ông Vi Văn Đ, sinh năm 1964, có mặt.

Cùng trú tại: Xóm B, xã H, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

7. Ma Văn Đ, sinh năm 1980, có mặt.

Trú tại: Xóm B, xã D, huyện H A, tỉnh Cao Bằng.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Bàn Hữu H, sinh năm 1992, vắng mặt.

Trú tại: Nà K, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn.

2. Đường Văn T, sinh năm 1980, vắng mặt.

Trú tại: Tổ 6, Phùng Chí K, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 09 giờ 30 phút ngày 28 tháng 12 năm 2017, tại khu vực chợ bò xóm Bản B, xã P, huyện H, Tổ công tác Công an huyện H đã phát hiện 01 đối tượng ngồi lên một xe môtô nhãn hiệu HONDA WAVE màu trắng biển kiểm soát 11H1- 15983 và đang dùng vam phá ổ khoá xe môtô sau đó khởi động xe nhưng xe không nổ, thì bị Tổ công tác Công an huyện bắt quả tang đưa cả người và tang vật về trụ sở UBND xã Phù N lập biên bản. Tang vật thu giữ gồm: 01 xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE biển kiểm soát 11H1-15983 có sơn màu trắng; 01 thanh kim loại chữ “T” có ba đầu 8, 9, 10; 02 đầu phá bằng kim loại một đầu được mài dẹt một đầu hình lục giác; 01 con dao gấp bằng kim loại có màu trắng và đen; 01 ví da màu đen; 01 chứng minh nhân dân tên Sầm Minh N; Số tiền Việt Nam: 397.000 đồng ( ba trăm chín mươi bảy nghìn đồng); 01 điện thoại cảm ứng nhãn hiệu SAMSUNG màu vàng đồng có số máy: G530H, số ID: A3LSMGG530H; 01 đồng hồ đeo tay nhãn hiệu LONGBO màu bạc trắng; 01 tua vít cán bằng nhựa, đầu bằng kim loại; 01 cờ lê bằng kim loại có đầu 10, 12; 06 chiếc chìa khoá xe máy; 01 can nhựa màu trắng chứa chất lỏng bị cáo khai là rượu; 01 biển kiểm soát xe máy 20B1- 68876; 01 mũ bảo hiểm INDEX màu trắng xám; 01 nhẵn bằng kim loại màu trắng; 01 đôi bao tay màu vàng; 01 bộ quần áo mưa màu đen.

Qua điều tra Sầm Minh N, tháng 8/2017 mới chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương, đến tháng 10/2017 N đi đến Bắc Ninh để làm thuê, do không có trình độ, bằng cấp nên N không kiếm được việc làm thường xuyên do đó N không có thu nhập ổn định, do nhu cầu tiêu xài cá nhân nên đến cuối tháng 11/2017 N nảy sinh ý định đi trộm cắp xe môtô và đã chuẩn bị công cụ gồm 01 bộ vam phá ổ khoá xe (trong đó có 02 chiếc vam và 01 dụng cụ xoay vam), 06 chiếc chìa khoá xe máy. Ngoài vụ việc trên trong tháng 12 năm 2017 Sầm Minh N còn thực hiện 06 vụ trộm xe mô tô khác cụ thể:

Vụ thứ nhất: Khoảng 09 giờ sáng ngày 02/12/2017, tại chợ Bản Giới N trộm 01 xe môtô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, BKS 11H1- 13711 màu sơn đỏ đen và 01 mũ bảo hiểm màu trắng treo ở xe của Hoàng Văn Th, xe đang dựng ở bên phải đường theo hướng chợ Bản Giới đi UBND huyện. Quan sát xung quanh thấy không có người đi lại, N liền lấy từ túi quần ra 01 chiếc vam phá khoá, cắm một đầu vam vào ổ khoá chiếc xe môtô để phá ổ khoá xe môtô rồi khởi động lái xe đi ra đường Hồ Chí Minh, đi xuống thành phố Cao Bằng vào một quán chơi điện tử và nhắn tin nói chuyện với Triệu Quang H, qua mạng xã hội Facebook Nghĩa rủ H đi chơi và H đồng ý hai người hẹn gặp nhau. Khoảng 11 giờ ngày 02/12/2017, Nghĩa đi xe môtô BKS 11H1- 13711 đến đầu cầu sông Hiến, thành phố Cao Bằng để đón H và rủ H cùng đi trộm cắp xe môtô, H nhất trí.

Vụ thứ hai: Khoảng 18 giờ ngày 02/12/2017, N điều khiển chiếc xe môtô SIRIUS có BKS 11H1- 13711 chở H đi từ thành phố Cao Bằng lên Hoà An để trộm cắp xe máy. Khi đi đến đoạn đường liên xã Đức Long- Nam Tuấn đi tiếp khoảng 100m thì thấy có nhiều xe môtô đang dựng ở bên phải đường, rồi N bảo H lái xe BKS 11H1- 13711 ra đường Hồ Chí Minh đợi còn N quay lại đến chỗ có nhiều xe môtô, quan sát không thấy ai đi lại, N đi vào vị trí chiếc xe máy BKS 11B1- 09632 nhãn hiệu Honda Future màu sơn đỏ đen, của chị Vi Thuý H, Nghĩa dùng vam phá ổ khoá rồi khởi động xe lái ra đường Hồ Chí Minh đến đoạn ngã ba Nà M, Đức L, Hoà An, Cao Bằng không nhìn thấy H nên đã lái xe đi thẳng xuống thành phố Cao Bằng, N tiếp tục đi vào quán điện tử chơi game và liên lạc với H qua mạng xã hội Face book.

H đợi N một lúc không rõ là N đã quay ra hay chưa nên H đi xe môtô BKS 11H1- 13711 ra đường Hồ Chí Minh về huyện H. H đi vào quán điện tử tại xã Đ, huyện H, Cao Bằng chơi điện tử và liên lạc với N qua Facebook hai người hẹn gặp nhau tại thành phố Cao Bằng. H điều khiển xe môtô BKS 11H1- 13711 đi xuống thành phố Cao Bằng, trên đường đi xuống thì gặp N đang đi lên, sau khi gặp nhau hai người mỗi người điều khiển một xe xuống tỉnh Bắc Kạn. Đến khoảng 03 giờ ngày 03/12/2017, N và H xuống đến thành phố Bắc Kạn, cả hai đi vào ngủ tại nhà Đường Văn T trú tại tổ 6, Phùng Chí K, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn là người quen của N. N đã bán chiếc xe môtô nhãn hiệu Yamaha Sirius BKS 11H1-13711 cho T tại nhà của T với giá 3.000.000đ ( ba triệu đồng ) sau đó N và H cùng nhau đi xe Honda Future BKS 11B1- 09632 xuống thành phố Bắc Ninh. Đến Bắc Ninh, H đi lên Hà Nội còn Ng ở lại và bán chiếc xe môtô Honda Future cho một người đàn ông không rõ tên, tuổi và địa chỉ được số tiền 3.500.000đ.

Triệu Quang H đến ngày 01/02/2018 đã lên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H A đầu thú.

Vụ thứ ba: Khoảng 06 giờ ngày 07/12/2017, tại chợ Bản Giới, thị trấn X, huyện H, N trộm chiếc xe môtô BKS 11X1- 07708 nhãn hiệu Honda Future, màu sơn đỏ đen, trên xe có treo 02 chiếc mũ bảo hiểm, đây là xe của Dương Chí X, đang dựng tại đường vào chợ Bản Giới ( đối diện ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn) cách đường Hồ Chí Minh khoảng 20m, N đi vào vị trí để xe ngồi lên xe rồi dùng vam phá ổ khoá xe môtô rồi khởi động xe đi thẳng xuống Bắc Kạn bán cho Bàn Hữu H, được 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng) còn 02 chiếc mũ bảo hiểm N đã vứt trên đường đi xuống Bắc Kạn.

Vụ thứ tư: Sáng ngày 11/12/2017, N đi xe buýt từ thành phố lên huyện H khi đến đoạn chợ Háng H, xã N, huyện H A, Cao Bằng, N đi theo đường vào UBND xã N khi đi được một đoạn cách đường Hồ Chí Minh khoảng 40m thì thấy có một xe môtô BKS 11H1- 04961, nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đen bạc, đây là xe của Nông Thị M, chiếc xe để cách phòng khám đa khoa khu vực Nà Rị khoảng hơn 20m. N đi vào vị trí chiếc xe môtô này rồi dùng bộ vam phá khoá phá được ổ khoá xe, nổ được động cơ rồi lái xe đi thẳng xuống thành phố Cao Bằng, N đi vào một quán điện tử gần bến xe khách tỉnh Cao Bằng để chơi game và vào mạng xã hội đăng tin rao bán chiếc xe này trên Facebook, đến khoảng 17 giờ cùng ngày thì bán cho một người đàn ông không rõ tên tuổi và địa chỉ có nick name Facebook là “linhkass” (không nhớ rõ có bao nhiêu chữ “s”) được số tiền là 2.000.000 đồng ( hai triệu đồng) tại địa điểm cách đường tròn Ngọc Xuân khoảng 5km theo hướng đi Quảng Uyên.

Vụ thứ năm: Khoảng 07 giờ ngày 21/12/2017, N đi xe buýt từ thành phố Cao Bằng lên chợ Háng Hoá, Nam Tuấn Hoà An, Cao Bằng, N đi bộ vào chợ tìm kiếm xung quanh chợ, đến khoảng 08 giờ khi đi đến đoạn đường bê tông cách đình chợ khoảng 40m N thấy có một xe môtô BKS 11H1- 11587, nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, đây là xe của Ma Văn Đ, N đi vào vị trí để xe dùng vam phá ổ khoá xe rồi nổ máy chạy thẳng xuống thành phố Cao Bằng đi vào một quán điện tử để lên mạng đăng thông tin rao bán chiếc xe, đến khoảng 16 giờ bán chiếc xe này cho người đàn ông lần trước được 2.000.000đ (hai triệu đồng) tại vị trí lần trước.

Vụ thứ sáu: Khoảng 09 giờ ngày 23/12/2017, N đến chợ bò Nà Giàng với mục đích tìm trộm xe môtô, khi đi đến đoạn trước nhà Hoàng Văn H tại Bản B, xã P, huyện H, N quan sát thấy trước nhà H có một chiếc xe máy BKS 11H1-02607, nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn xanh của chị Hoàng Thị N, thấy xung quanh không có ai đi lại nên đã đi vào vị trí để xe môtô, ngồi lên yên xe, N lấy từ túi quần ra một bộ vam phá ổ khoá xe máy, N nổ được động cơ xe rồi lái xe theo hướng Phù Ngọc- Tổng Cọt- Trà Lĩnh, đến Trà Lĩnh, N lại đăng thông tin rao bán xe máy trên mạng xã hội Facebook sau đó N bán chiếc xe máy này cho người nam giới đã mua hai lần trước đó được 2.000.000đ (hai triệu đồng).

Về vật chứng vụ án đã thu được: 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 11H1-15983 sơn màu trắng Sầm Minh N đã trộm vào ngày 28/12/2017 tại chợ bò xóm B, xã P, huyện H, Cao Bằng.

01 chiếc xe môtô Yamaha Sirius, BKS 11H1- 13711 màu sơn đỏ đen của Hoàng Văn Th, N bán cho Đường Minh T trú tại tổ 6, Phùng Chí K, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn, khi mua T không biết đây là xe do N trộm cắp mà có nên đến ngày 07/3/2018 khi biết Đường Minh T đã giao nộp lại chiếc xe này

Về những chiếc xe còn lại do không xác định được người mua nên không truy thu được, các bị hại yêu cầu bồi thường theo giá trị của xe bị mất.

Để xác định giá trị các xe do các bị cáo trộm cấp được Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của huyện H A và huyện H đã định giá, xác định giá cụ thể như sau:

- Xe mô tô BKS 11H1- 15983 nhãn hiệu Honda Wave sơn màu trắng đen bạc của anh Lý Văn L, trị giá: 21.000.000đ (hai mươi mốt triệu đồng).

- Xe mô tô BKS 11H1- 13711 nhãn hiệu Yamaha Sirius sơn màu đỏ đen của anh Hoàng Văn Th có giá: 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) và 01 mũ bảo hiểm có giá: 420.000đ (bốn trăm hai mươi nghìn)

- Xe mô tô BKS 11X1- 07708 nhãn hiệu Honda Future sơn màu đỏ đen của anh Dương Chí X có giá: 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) và 02 chiếc mũ bảo hiểm có giá: 280.000đ (hai trăm tám mươi nghìn đồng)

- Xe môtô BKS 11H1- 11607 nhãn hiệu Honda Wave màu sơn xanh của chị Hoàng Thị N có giá: 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) và 01 mũ bảo hiểm có giá: 110.000đ (một trăm mười nghìn đồng); 01 áo mưa có giá trị còn lại: 90.000đ (chín mươi nghìn đồng).

- Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu sơn đen bạc BKS 11H1- 04961 của chị Nông Thị M trị giá: 14.050.000đ (mười bốn triệu không trăm năm mươi nghìn).

- Xe môtô nhãn hiệu Honda Future màu sơn đỏ đen BKS 11B1- 09632 của chị Vi Thúy H trị giá: 20.400.000đ (hai mươi triệu bốn trăm nghìn đồng).

- Xe môtô nhãn hiệu Honda Wave màu sơn xanh đen bạc BKS 11H1- 11587 của anh Mã Văn Đ trị giá: 10.780.000đ (mười triệu bảy trăm tám mươi nghìn).

Tổng giá trị tài sản mà bị cáo N xâm hại là 127.130.000đ, do đó cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện H đã khởi tố N theo khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Triệu Quang H đồng phạm với bị cáo N trộm cắp 01 vụ, 01 chiếc xe máy Honda Future màu sơn đỏ đen BKS 11B1- 09632 của chị Vi Thúy H trị giá: 20.400.000đ, do đó, H bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H khởi tố theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Bản Cáo trạng số 08/CT-VKSHQ ngày 15 tháng 5 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, truy tố Sầm Minh N về tội “Trộm cắp tài sản ” theo điểm b,c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Truy tố Triệu Quang H về tội: Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về hành vi phạm tội như trên và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Sầm Minh N phạm tội “ Trộm cắp tài sản”, đề nghị áp dụng điểm b,c khoản 2 Điều 173; điểm r, s khoản 1 Điều 51, điểm h,g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Triệu Quang H phạm tội: “Trộm cắp tài sản” và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Sầm Minh N, từ 4 đến 5 năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt từ ngày 28/12/2017.

Xử phạt: Triệu Quang H, từ 12 tháng đến 18 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 36 tháng. Đồng thời đề xử lý vật chứng vụ án và bồi thường thiệt hại cho các bị hại theo quy định.

Tại phiên tòa các bị cáo xác định nội dung bản Cáo trạng nêu diễn biến hành vi phạm tội của bị cáo hoàn toàn chính xác. Trong phần tranh luận cũng như lời nói sau cùng các bị cáo không có ý kiến gì thêm, biết thực hiện hành vi trộm cắp là vi phạm pháp luật, chỉ mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt.

Ý kiến của các bị hại đều xác định đúng tài sản của mình bị các bị cáo trộm cắp, bị hại L xác nhận đã nhận lại được tài sản, bị hại Th yêu trả lại chiếc xe, còn các bị hại khác đều yêu cầu bồi thường theo giá trị tài sản bị mất.

Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến gì thêm về Quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng của bị cáo là mong được Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

(1) Về vắng mặt người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án tại phiên tòa: Anh Bàn Hữu H mua với bị cáo 01 xe mô tô biển kiểm sóat 11X1-07708 với số tiền là 2.500.00đ, anh không biết là tài sản trộm cắp và nay anh đã bán chiếc xe này cho người thu mua sắt vụn. Anh Đường Văn T mua với bị cáo 01 xe mô tô biển kiểm soát 11H1- 13711, anh không biết xe do bị cáo trộm cắp với giá 3.000.000đ, anh đã nộp lại chiếc xe cho cơ quan điều tra, anh biết hoàn cảnh của bị cáo khó khăn nên không yêu cầu bị cáo bồi thường. Do vậy, xét xử vắng mặt không ảnh hưởng gì đến quyền lợi.

(2) Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của quan điều tra Công an, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

(3) Về tội danh:

Tại phiên tòa bị cáo N và bị cáo H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại và những người chứng về thời gian, địa điểm và tang vật vụ án thu được. Qua phân tích, đánh gía nêu trên cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 09 giờ 30 phút ngày 28 tháng 12 năm 2017, tại khu vực chợ bò xóm Bản B, xã P, huyện H, khi quan sát không thấy ai bị cáo đã lén lút dùng vam phá ổ khoá, trộm xe môtô nhãn hiệu HONDA WAVE màu trắng biển kiểm soát 11H1- 15983, bị Tổ công tác Công an huyện bắt quả tang đưa cả người và tang vật về trụ sở UBND xã P lập biên bản.

Ngoài ra trong tháng 12 năm 2017 Sầm Minh N còn thực hiện 06 vụ trộm xe mô tô khác cụ thể là:

09 giờ sáng ngày 02/12/2017, N trộm 01 xe môtô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, BKS 11H1- 13711 màu sơn đỏ đen và 01 mũ bảo hiểm màu trắng treo ở xe của Hoàng Văn Th, tại chợ Bản G, thị trấn X rồi đi về thành phố Cao Bằng. Đến khoảng 18 giờ ngày 02/12/2017 cùng ngày, N điều khiển chiếc xe môtô SIRIUS có BKS 11H1- 13711 sáng vừa trộm được chở H đi từ thành phố Cao Bằng lên Hoà An, đến đoạn đường liên xã Đ- Nam Tuấn đi tiếp khoảng 100m, trộm chiếc xe máy BKS 11B1- 09632 nhãn hiệu Honda Future màu sơn đỏ đen, của chị Vi Thuý H. Sau đó N và H mỗi người điều khiển một xe xuống tỉnh Bắc Kạn. N đã bán chiếc xe môtô nhãn hiệu Yamaha Sirius BKS 11H1- 13711 cho anh Đường Văn T trú tại tổ 6, Phùng Chí K, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn với giá 3.000.000đ ( ba triệu đồng ) sau đó N và H cùng nhau đi xe Honda Future BKS 11B1- 09632 xuống thành phố Bắc Ninh. Đến Bắc Ninh, H đi lên Hà Nội còn N ở lại và bán chiếc xe môtô Honda Future cho một người đàn ông không rõ tên, tuổi và địa chỉ được số tiền 3.500.000đ.

Khoảng 06 giờ ngày 07/12/2017, tại chợ Bản G, thị trấn X, huyện Hà Q ( đối diện ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn) N trộm chiếc xe môtô BKS 11X1- 07708 nhãn hiệu Honda Future, màu sơn đỏ đen, trên xe có treo 02 chiếc mũ bảo hiểm của Dương Chí X, đi thẳng xuống Bắc Kạn bán cho Bàn Hữu H với giá 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng) còn 02 chiếc mũ bảo hiểm N đã vứt trên đường đi xuống Bắc Kạn.

Sáng ngày 11/12/2017, tại chợ Háng H, xã N, Hoà An, Cao Bằng, N đi theo đường vào UBND xã N khi đi được một đoạn cách đường Hồ Chí Minh khoảng 40m trộm một xe môtô BKS 11H1- 04961, nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đen bạc của Nông Thị M.

Khoảng 07 giờ ngày 21/12/2017, cũng tại chợ Háng H, xã N, Hoà An, Cao Bằng, đoạn đường bê tông cách đình chợ khoảng 40m N trộm một xe môtô BKS 11H1- 11587, nhãn hiệu Honda Wave màu xanh của Ma Văn Đ.

Khoảng 09 giờ ngày 23/12/2017, tại Bản B, xã P, huyện H, Nghĩa trộm chiếc xe máy BKS 11H1- 02607, nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn xanh của chị Hoàng Thị N.

Cả 03 chiếc xe này N đều vào mạng xã hội đăng tin rao bán trên Facebook, bán cho một người đàn ông không rõ tên tuổi và địa chỉ có nick name Facebook là “linhkass” (không nhớ rõ có bao nhiêu chữ “s”) với giá mỗi chiếc xe là 2.000.000 đồng ( hai triệu đồng) tại địa điểm cách đường tròn Ngọc Xuân khoảng 5 km theo hướng đi Quảng Uyên.

Cả 07 chiếc xe và các mũ bảo hiểm xe máy mà bị cáo trộm cắp được, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H và huyện H A định giá, tổng giá trị là 127.130.000đ. Do vậy, đủ cơ sở kết luận: Sầm Văn N phạm tội trộm cắp tài sản theo quy định điểm b, c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Triệu Quang H cùng N thực hiện 01 vụ trộm cắp 01 chiếc xe mô tô trị giá 20.400.000đ, do vậy, Triệu Quang H phạm tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

“ Điều 173. Tội trộm cắp tài sản quy định:

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thị bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

a) Đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các Điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội

d) Tài sản là nguồn sống chính của người bị hại và gia đình họ.

đ) Tài sản là di vật cổ vật

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm :

a) Có tổ chức ;

b) Có tính chất chuyên nghiệp ;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng ; .... ’’

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an trên địa bàn huyện H và huyện H A, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của nhiều người, gây hoang mang lo lắng cho quần chúng nhân dân.

Bị cáo N có trình độ 9/12; bị cáo H có trình độ 8/12, các bị cáo đều hiểu biết và có nhận thức xã hội, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ năng lực nhận thức việc làm của mình là sai trái. Song vì muốn có tiền tiêu sài đáp ứng cho nhu cầu cá nhân và coi thường pháp luật đã lợi dụng sơ hở lén lút chiếm đoạt nhiều tài sản của người khác bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Lỗi của các các bị cáo là lỗi cố ý. Do đó cần có hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo đã gây ra nhằm giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung.

(4) Về tình tiết định khung hình phạt:

Bị cáo Sầm Văn N chiếm đoạt tổng giá trị tài sản là 127.130.000đ, phạm tội liên tục 07 lần và việc trộm cắp làm thu nhập chính cho sinh hoạt cá nhân đủ yếu tố cấu thành định khung theo điểm b, c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Bị cáo Triệu Quang H đồng phạm cùng bị cáo N chiếm đoạt tài sản có giá trị là 20.400.000đ có tình tiết dịnh khung tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

(5) Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo:

Bị cáo N có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm, phạm tội nhiều lần. Có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo và tự thú hành vi phạm tội của mình quy định tại điểm r,s khoản 1 Điều 51; Điểm h,g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, đó là các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cần xem xét cân nhắc khi quyết định hình phạt. Bị cáo N là người có nhân thân xấu, ngày 08/11/2016 bị Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. ngày 23/11/2016, bị Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Cao Bằng xử phạt 06 tháng tù về tội về tội “Trộm cắp tài sản”. Tháng 8 năm 2017 vừa chấp hành xong hình phạt chưa được xóa án tích, bị cáo không lấy đó làm bài học rèn luyện cải tạo bản thân mình trở thành người tốt mà tiếp tục dẫn thân mình vào con đường phạm tội, nên phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm, hơn nữa chỉ trong tháng 12 năm 2017 bị cáo đã thực hiện 07 vụ trộm cắp và lấy số tiền bán tài sản trộm cắp làm thu nhập chính do vậy thuộc trường hợp phạm tội nhiều lần và có tính chất chuyên nghiệp theo quy định của pháp luật. Cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Bị cáo H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội đã tự đến cơ quan Công an đầu thú. Đó là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo khi quyết định hình phạt, bị cáo có nhân thân tốt, có địa chỉ nơi cư trú rõ ràng. Xét tính chất mức độ vai trò phạm tội của bị cáo trong vụ án này thì bị cáo là người bị rủ rê, do vậy cần cân nhắc mức án phù hợp và tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra. Xét thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà để cải tạo, giáo dục tại địa phương vẫn còn có triển vọng tiến bộ trở thành người công dân tốt có ít cho gia đình và xã hội.

(6) Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo đều không có nghề nghiệp, không có thu nhập, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

( 7) Về trách nhiệm dân sự:

01 xe môtô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 11H1-15983 sơn màu trắng Sầm Minh N đã trộm vào ngày 28/12/2017 tại chợ bò xóm Bản B, xã P, huyện H, Cao Bằng. Công an huyện H đã quyết định xử lý vật chứng số: 04 ngày 03/01/2018 trả cho chủ sở hữu là anh Lý Đức L, anh L đã nhận lại xe đầy đủ và không yêu cầu gì thêm.

01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius, màu đỏ đen, không có biển kiểm soát, có số khung C6KOGY332407, số máy 5C6K332408, xe cũ đã qua sử dụng. Qua điều tra xác định là xe của anh Hoàng Văn Th, do vậy cần trả lại cho chủ sở hữu theo quy định.

Còn lại các chiếc xe của bị hại Dương Chí X, Vi Thúy H, Mã Văn Đ, Hoàng Thị N, Nông Thị M, sau khi trộm được bị cáo đã bán cho người không quen biết, không thu lại được, do vậy bị cáo nhất trí bồi thường cho các bị hại theo giá trị của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự và các bị hại cũng hoàn toàn nhất trí.

Bị cáo H cùng bị cáo N có trách nhiệm liên đới bồi thường cho chị Vi Thúy H, tuy nhiên trọng vụ trộm này bị cáo N là người rủ rê, khi bán được chiếc xe trộm cắp được 3.000.000đ, bị cáo không chia tiền cho H, chỉ trả cho bị cáo H 20.000đ tiền chơi game, còn lại bị khác tiêu hết do vậy bị cáo không cho H cùng bồi thường mà bị cáo sẽ khác bồi thường, bị cáo H cũng chấp nhận sự tự nguyện đó của bị cáo N.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: anh Bàn Hữu H mua với bị cáo N chiếc xe máy giá 2.500.000đ, nhưng anh đã bán chiếc xe đó cho người khác. Còn Đường Văn T, mua với bị cáo N chiếc xe mô tô số tiền là 3.000.000đ, cơ quan Công an đã thu lại chiếc xe, anh biết hoàn cảnh của N khó khăn, nên không yêu cầu bị cáo bồi thường nên tòa không xem xét.

(8) Về tang vật vụ án:

- 01 cái ví màu đen đã cũ hỏng; 01 thanh kim loại ( dụng cụ xoay vam) chữ “T” có ba đầu 8,9,10; 02 đầu phá ( vam) bằng kim loại, một đầu được mài dẹt, một đầu hình lục giác, bị cáo tự chế; 01 con dao gấp bằng kim loại màu trắng – đen; 01 tua vít cán nhựa, đầu bằng kim loại; 01 cờ lê bằng kim loại, có đầu 10,12; lấy từ cốp xe trộm cắp, 06 chìa khóa xe máy mua ngoài chợ; 01 chiếc biển kiểm soát xe máy màu trắng giả; 01 đôi bao tay màu vàng; 01 bộ quần áo mưa màu đen; 01 mũ bảo hiểm nhà hiệu INDEX, màu trắng – xám đã cũ hỏng; 01 can nhựa màu vàng, bên trong có chất lỏng bị cáo khai là rượu mua ngoài chợ; những đồ vật này tại phiên tòa bị cáo xác nhận là dùng làm công cụ phương tiện phạm tội hoặc vật đã cũ hỏng, giá trị nhỏ, bị cáo bị cáo không yêu cầu mà đề nghị tịch thu và tiêu hủy.

- 397.000đ tiền ngân hàng Việt Nam; 01đồng hồ đeo tay nhãn hiệu LONGBO, màu trắng bạc; 01 nhẫn bằng kim loại màu trắng, đều là dùng tiền bán xe do trộm cắp mà có, cần tịch thu, phát mại để cho công tác thi hành án.

- 01 chứng minh nhân dân mang tên Sầm Văn N; 01 điện thoại cảm ứng, nhãn hiệu sam sung, màu vàng, số máy: G530H, số ID: A3LSMGG530H của bị cáo Sầm Minh N không liên quan đến việc phạm tội cần trả lại cho chủ sở hữu

( 9) Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Các bị cáo Sầm Minh N và Triệu Quang H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Điểm b,c khoản 2 Điều 173; điểm r,s khoản 1 Điều 51; điểm h,g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Sầm Minh N 04 ( bốn) năm 06 ( sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt 28/12/2017.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm i,s khoản 1 khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Triệu Quang H 13 ( mười ba ) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 26 tháng, tính từ ngày tuyên án ngày 20/7/2018. Giao bị cáo cho chính quyền xã Đ, huyện H, tỉnh Cao Bằng theo dõi, giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

2. Về tang vật vụ án và trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; các Điều 584-585- 586 và 589 của Bộ luật dân sự.

- Xác nhận anh Lý Đức L trú tại: Bản L, xã Q, huyện H, Cao Bằng đã nhận lại chiếc xe mô tô mang biển kiểm soát 11H1-15983 sơn màu trắng.

- Trả lại cho anh Hoàng Văn Th, trú tại: Xóm , xã V, huyện H, tỉnh Cao Bằng 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu đỏ đen, không có biển kiểm soát, có số khung C6KOGY332407, số máy 5C6K332408, xe cũ đã qua sử dụng và bồi thường 01 chiếc mũ bảo hiểm trị giá là 400.000đ .

- Buộc bị cáo N phải bồi thường cho các bị hại là: Anh Dương Chí X, trú tại: Xóm L, xã P, huyện H, tỉnh Cao Bằng, trị giá chiếc xe là: 20.000.000đ và 02 mũ bảo hiểm trị giá: 280.000đ

Chị Nông Thị M, trú tại: Xóm C, xã N, huyện H A, tỉnh Cao Bằng, trị giá chiếc xe là: 14.050.000đ.

Chị Hoàng Thị N, trú tại: Xóm L, xã M, huyện H, tỉnh Cao Bằng, trị giá chiếc xe là: 20.000.000đ và 01 chiếc mũ bảo hiểm trị giá là: 110.000đ, 01 cái áo mưa là 90.000đ.

Anh Ma Văn Đ, trú tại: Xóm B, xã D, huyện H A, tỉnh Cao Bằng, trị giá chiếc xe là: 10.780.000đ.

- Buộc bị cáo Nghĩa bồi thường cho chị Vi Thuý H, trú tại: Xóm B, xã H, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng, trị giá chiếc xe là: 20.400.000đ.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và những người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người thi hành án chưa thanh toán khoản tiền phải thi hành án, thì hàng tháng phải chịu lãi đối với số tiền chậm thi hành theo mức lãi xuất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự. Người thi hành án dân dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

- Trả lại cho Sầm Minh N, trú tại: Xóm N, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng; 01 chứng minh nhân dân mang tên Sầm Văn N; 01 điện thoại cảm ứng, nhãn hiệu sam sung, màu vàng, số máy: G530H, sốID: A3LSMGG530H

- Tịch thu và tiêu hủy: 01 ví da màu đen; 01 thanh kim loại ( dụng cụ xoay vam) chữ “T” có ba đầu 8,9,10; 02 đầu phá ( vam) bằng kim loại, một đầu được mà dẹt, một đầu hình lục giác; 01 con dao gấp bằng kim loại màu trắng - đen; 01 tua vít, cán nhựa, đầu bằng kim loại; 01 cờ lê bằng kim loại, có đầu 10,12; 06 chĩa khóa xe máy; 01 chiếc biển kiểm soát xe máy màu trắng; 01 đôi bao tay màu vàng; 01 bộ quần áo mưa màu đen; 01 mũ bảo hiểm nhà hiệu INDEX, màu trắng – xám; 01 can nhựa màu vàng, bên trong chất lỏng bị cáo khai là rượu mua ngoài chợ;

- Tịch thu 397.000đ tiền ngân hàng Việt Nam và tịch thu, phát mại 01 đồng hồ đeo tay nhãn hiệu LONGBO, màu trắng bạc; 01 nhẫn bằng kim loại màu trắng, để đảm bảo cho công tác thi hành án.

Vật chứng Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện đã chuyển sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện H ngày 25/5/2018.

3.Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội.

Buộc bị cáo Sầm Minh N phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự và 6.335.000đ, án phí dân sự có giá ngạch, sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.

Buộc bị cáo Triệu Quang H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng), án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.

4.Về quyền kháng cáo: Báo cho các bị cáo, bị hại biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án theo quy định ./.

Cỡ chữ