- Tranh chấp gì? án hình sự — "Y S Byă phạm tội "Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng". - phạm tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng (điều 175 B…"
- Tòa quyết gì? * Tuyên bố bị cáo Y S Byă phạm tội “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 175 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M’ĐRĂK TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2018/HS-ST Ngày 24-4-2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M’ĐRĂK, TỈNH ĐĂKLẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Cường Anh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Trọng Búp, bà Bùi Thị Thêm.
- Thư ký toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Trần Hòa Bình - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Trương Công Sâm - Kiểm sát viên.
Ngày 24/4/2018, tại hội trường Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 08/2018/TLST-HS ngày 23 tháng 3 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2018/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2018, đối với bị cáo:
Y S Byă, sinh ngày 08/6/1979 tại huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk. Nơi cư trú: Buôn H, xã C, huyện M, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Ê đê; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Y K Niê, sinh năm 1958 và bà H’M Byă, sinh năm 1958; Bị cáo có vợ: H’ Ng Niê, sinh năm 1984 và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2003, con nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án: Không, tiền sự: Ngày 27/7/2016, bị chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện M’Đrắk ra quyết định xử phạt hành chính số: 1914/QĐ – XPVPHC về hành vi “Vận chuyển lâm sản trái pháp luật” với hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 25.000.000 đồng và hình phạt bổ sung: Tịch thu phương tiện xe công nông độ chế và 3,092 m2 gỗ xẻ nhóm VI sung công quỹ Nhà nước, Y S Byă chưa chấp hành xong quyết định xử phạt chính; nhân thân: Ngày 06/6/2003, bị chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk ra quyết định số: 1694/QĐ-UB về việc quản chế hành chính về hoạt động phạm tội phá hoại chính sách đoàn kết. Thời hạn quản chế là 24 tháng. Bị cáo hiện đang được tại ngoại, có mặt tại phiên toà.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Chị H’ Ng Niê, sinh năm 1984. Địa chỉ: Buôn H, xã C, huyện M, tỉnh Đăk Lăk. (Có mặt).
+ Anh Y K Niê, sinh năm 1985; anh Y TL Byă, sinh năm 1975; anh Y P Niê, sinh năm 1986. Cùng địa chỉ: Buôn H, xã C, huyện M, tỉnh Đăk Lăk. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào tháng 11/2017, Y S Byă có mua của một người dân tộc H’Mông (không rõ lai lịch) 06 hộp gỗ, có khối lượng 2,404 m3 với giá 10.000.000 đồng, tại khoảnh 7, tiểu khu 79 thuộc xã Cư Króa, huyện M’Đrắk để làm nhà. Ngày 10/12/2017, Y S điều khiển xe công nông độ chế của gia đình đi chở gỗ, khi đi có thuê Y K Niê, Y P Niê và Y TL Byă ở cùng buôn đi bốc và vận chuyển gỗ cùng. Sau khi bốc gỗ lên xe xong, khoảng 00 giờ 10 phút ngày 11/12/2018, Y S Byă điều khiển xe công nông chở gỗ về đến thôn 20, xã Cư M’ta, huyện M’Đrắk thì bị lực lượng Công an huyện M’Đrắk cùng Công an tỉnh Đắk Lắk phát hiện bắt giữ cùng tang vật.
- Vật chứng tạm giữ: 01 xe công nông độ chế; 06 hộp gỗ, có khối lượng 2,404m3.
Tại bản kết luận giám định ngày 09/01/2018 của Chi cục kiểm lâm Tỉnh Đăk Lăk kết luận: 06 hộp, tấm gỗ xẻ có khối lượng 2,404 m3, quy tròn là 3,846m3, chủng loại gỗ: Gỗ Bứa thuộc nhóm VI.
Tại bản kết luận giám định tài sản số: 01/KL-HĐĐG ngày 15/01/2018 của Hội đồng định giá tài sản huyện M’đrăk kết luận: 2,404 m3 gỗ hộp thuộc nhóm VI có giá trị: 7.693.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 10/CT-VKS ngày 22 tháng 3 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M’Đrăk truy tố bị cáo Y S Byă về tội “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự (BLHS).
Quá trình xét hỏi tại phiên toà, bị cáo khai nhận: Vào tháng 11/2017, bị cáo có mua của một người không rõ lai lịch tại xã Cư Króa, huyện M’Đrắk 06 hộp gỗ, khối lượng 2,404 m3, gỗ không rõ nguồn gốc, không có giấy tờ hợp pháp. Ngày 10/12/2017, bị cáo thuê Y K Niê, Y P Niê và Y TL Byă ở cùng buôn đi bốc gỗ và điều khiển xe công nông của gia đình đi chở gỗ về nhà. Sau khi bốc gỗ xong, vào khoảng 00 giờ 10 phút ngày 11/12/2018 bị cáo điều khiển xe công nông chở gỗ về đến thôn 20, xã Cư M’ta thì bị lực lượng Công an huyện M’Đrắk cùng Công an tỉnh Đắk Lắk phát hiện bắt giữ cùng tang vật.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M’Đrăk, tỉnh Đăk Lăk giữ quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Y S Byă về tội “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng”. Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):
- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 175; điểm h, p khoản 1 Điều 46 BLHS: Xử phạt bị cáo Y S Byă từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
- Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 41 BLHS năm 1999; khoản 2 Điều 106 BLTTHS:
+ Tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước 06 hộp gỗ Bứa xẻ hộp có khối lượng 2,404m3 thuộc nhóm VI và 01 xe công nông độ chế.
* Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Không bị khiếu nại, tố cáo về hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu lưu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, cũng như phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, những người tham gia tố tụng khác. HĐXX có đủ cơ sở pháp lý kết luận: Do ý thức coi thường pháp luật, vì mục đích tư lợi cá nhân nên vào khoảng 00 giờ 10 ngày 11/12/2017, Y S Byă đã có hành vi vận chuyển trái phép 2,404m3 (quy tròn 3,486m3 ) gỗ Bứa thuộc nhóm VI tại xã Cư M’ta, huyện M’Đrắk, số gỗ trên không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc và không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép vận chuyển. Hành vi vận chuyển trái pháp luật 2,404m3 (quy tròn 3,486m3 ) gỗ Bứa thuộc nhóm VI của bị cáo thuộc trường hợp đã bị xử phạt hành chính về hành vi này chưa hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính nên cấu thành tội “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 175 BLHS.
Tại Điều 175 Bộ luật Hình sự quy định:
1. Người nào có một trong các hành vi sau đây gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bi xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:
..................................
b) Vận chuyển, buôn bán gỗ trái phép, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 153 và Điều 154 của Bộ luật này.
Xét tính chất của vụ án cũng như hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo phải biết rằng việc vận chuyển lâm sản trái phép là xâm phạm đến chế độ pháp lý về khai thác và bảo vệ rừng, là trái pháp luật, bị cáo biết biết đây là gỗ không có giấy tờ hợp pháp, chưa được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép vận chuyển nhưng vì mục đích tư lợi cá nhân bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu, đã bị xử phạt hành chính về hành vi vận chuyển trái phép lâm sản nhưng chưa chấp hành xong phạt, ý thức chấp hành pháp luật kém. Vì vậy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục và cải tạo bị cáo thành người tốt.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, HĐXX cũng xem xét đến các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để lượng hình cho tương xứng với hành vi mà bị cáo gây ra. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu số. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, p khoản 1 khoản 2 Điều 46 BLHS năm 1999.
* Về vật chứng:
+ Đối với xe xe công nông độ chế là tài sản hợp pháp của gia đình bị cáo, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị H’Ng Niê đã dùng làm phương tiện để phạm tội, là vật có giá trị nên tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
+ Đối với 06 hộp gỗ Bứa xẻ có khối lượng là 2,4048m3, gỗ thuộc nhóm VI là vật chứng của vụ án, là vật có giá trị nên cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
* Đối với Y K Niê, Y TL Byă, Y P Niê là những đối tượng có vai trò trực tiếp giúp sức cho bị cáo phạm tội nhưng do chưa bị xử phạt hành chính, chưa bị kết án về hành vi này và khối lượng gỗ chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự nên chuyển xử lý hành chính đối với các đối tượng này.
* Về án phí: Bị cáo Y S Byă thuộc hộ cận nghèo, là đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn toàn bộ án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
* Tuyên bố bị cáo Y S Byă phạm tội “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng”.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 175; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 BLHS năm 1999:
Xử phạt bị cáo Y S Byă 04 (Bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
* Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 41 BLHS năm 1999; khoản 2 Điều 106 BLTTHS:
- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 xe công nông độ chế.
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 06 hộp gỗ Bứa xẻ có khối lượng 2,404m3, gỗ thuộc nhóm VI.
Đặc điểm vật chứng như biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu ngày 11/12/2017 của Công an huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk và đang được tạm giữ tại Cơ quan công an huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk.
* Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Y S Byă được miễn toàn bộ án phí HSST.
* Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án HSST trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án HSST trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - TAND tỉnh ĐắkLắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - Phòng Quản lý lý lịch – Sở Tư Pháp ĐắkLắk; - VKSND huyện M’Đrắk; - CQĐT Công an huyện M’Đrắk; - CQTHAHS Công an huyện M’Đrắk; - Nhà tạm giữ Công an huyện M’Đrắk; - T.H.A dân sự huyện M’Đrắk; - Bị cáo; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | Nguyễn Cƣờng Anh |