- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn C phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2018/HS-ST Ngày 06/7/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Ngọc Tính.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Văn Thanh và bà Nguyễn Thị Thu Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Hoàng Dương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gio Linh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Vì - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 7 năm 2018, tại Tòa án nhân dân huyện Gio Linh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 07/2018/TLST-HS ngày 04/6/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2018/QĐXXST-HS ngày 25/6/2018 đối với bị cáo: Nguyễn Văn C, sinh ngày 17/3/1991 tại Quảng Trị; nơi ĐKNKTT và chỗ ở: thôn G, xã G, huyện G, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị Tn; có vợ là Hồ Thị Tg V và 02 con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại, có mặt.
- Bị hại: Ông Hồ Văn X, sinh năm 1960; trú tại: thôn X, xã V, huyện G, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 31/12/2017, Nguyễn Văn C đến chơi nhạc tại nhà ông Hồ Văn X ở tại Xóm T, V, G, Quảng Trị thì phát hiện nhà kho của ông X có để máy cắt cỏ nên nảy sinh ý định trộm cắp. Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 04/01/2018, C điều khiển xe mô tô BKS 74F2-1441 đi từ G đến Trung tâm học tập cộng đồng thôn X, xã V rồi đi bộ vào nhà kho của ông X, dùng điện thoại di động nhãn hiệu OPPO mang theo người bật đèn chiếu sáng để quan sát bên trong. Thấy không có ai, C liền tháo sợi dây thép đang buộc ở cửa và đi vào thì phát hiện có 02 máy cắt cỏ nhãn hiệu Kasei KS-35H để ở giữa nhà và 02 máy cắt cỏ nhãn hiệu Honda GX35 để trên bàn. C lần lượt bưng từng máy cắt cỏ ra khỏi nhà kho rồi dùng xe chở 02 máy cắt cỏ về cất giấu sau vườn nhà mình. Sau đó, C tiếp tục điều khiển xe mô tô quay lại chở 02 máy cắt cỏ còn lại về cất giấu và đi ngủ. Ngày 14/01/2018, C điều khiển xe mô tô BKS 74F2-1441 chở 02 máy cắt cỏ nhãn hiệu HONDA GX35 đến nhà anh Nguyễn Hữu T, trú tại L S, G, G (cậu ruột của C) để nhờ anh T bán giúp. Đến nơi, anh T đi vắng nên C để 02 máy cắt cỏ phía trong nhà bếp rồi dùng điện thoại gọi anh T với nội dung: “Có hai máy cắt cỏ của bạn cháu, nhờ cậu bán giúp cho cháu với” anh T nghe vậy thì đồng ý. Ngày 15/01/2018, anh T đã liên hệ với anh Nguyễn Tiến Th và anh Lâm Công S đều trú tại: L S, G, G về việc có 02 máy cắt cỏ mà cháu mình nhờ bán. Ngày 17/01/2018, anh Th đến xem trước và ngỏ ý mua, anh T điện thoại thông báo với C thì C bán máy HONDA GX35 loại không gắn cụm xoay và lưỡi cắt với giá 2.300.000 đồng. Anh T nhận 2.300.000 đồng từ anh Th rồi sau đó đưa cho C. Khoảng 16 giờ ngày 17/01/2018, anh S đến nhà anh T thì gặp C, C bán máy HONDA GX35 loại có gắn cụm xoay nhưng không có lưỡi cắt với giá 3.000.000 đồng. Chiều cùng ngày, ông Hồ Văn X đi làm ở G thì phát hiện anh Th đang cầm máy cắt cỏ của mình nên đã mua lại với giá 2.300.000 đồng. Ngày 18/01/2018, anh Nguyễn Văn T (bố của C) nghe được thông tin C trộm cắp tài sản nên đi chuộc máy cắt cỏ từ anh Svới giá 3.000.000 đồng rồi cùng C đưa các máy còn lại đến nhà ông X để trả lại, đồng thời trả cho ông X số tiền 2.300.000 đồng mà ông X đã mua máy từ anh Th. Chiều cùng ngày, C đến Công an huyện để đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Kết luận định giá tài sản số 04/KL-ĐGTS ngày 05/02/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Gio Linh kết luận: Tổng trị giá 04 máy cắt cỏ là 9.000.000 đồng.
Cáo trạng số 07/CT-VKS ngày 01/6/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ: thần khẩn khai báo, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, ăn năn hối cải, người phạm tội đầu thú, bị hại xin miễn trách nhiệm truy cứu trách nhiệm hình sự, xử phạt Nguyễn Văn C từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưỡng án treo. Về xử lý vật chứng: Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO và tịch thu, tiêu hủy 01 sợi dây cao su.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng, quyết định tố tụng: Trong giai đoạn điều tra, truy tố, Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Người tham gia tố tụng: Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy rằng:
- Ngày 17/01/2018, anh Lâm Quang S mua 01 máy cắt cỏ của Nguyễn Văn C với giá 3.000.000 đồng nhưng không biết tài sản do C trộm cắp. Ngày 18/01/2018, anh Nguyễn Văn T đến nhà anh S chuộc lại máy cắt cỏ và hoàn trả cho anh S 3.000.000đồng.
- Ngày 17/01/2018, anh Nguyễn Tiến Th mua 01 máy cắt cỏ với giá 2.300.000 đồng nhưng không biết tài sản do C phạm tội mà có. Cùng ngày, ông Hồ Văn X phát hiện anh Th đang quản lý máy cắt cỏ của mình nên đã chuộc lại với giá 2.300.000 đồng.
- Đối với chị Lê Thị B là chủ sở hữu xe mô tô 74F2-1441 mà bị cáo dùng làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội. Chị B đã được cơ quan điều tra trả lại xe mô tô và không yêu cầu bồi thường.
Xét thấy, quyền lợi hợp pháp của anh Lâm Quang S, Nguyễn Tiến Th và chị Lê Thị B đã được giải quyết trong giai đoạn điều tra, không có ai yêu cầu bồi thường; còn nghĩa vụ dân sự thì không phải chịu trách nhiệm. Vì vậy, Tòa án không triệu tập những người này tham gia phiên tòa với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Riêng đối với anh Nguyễn Văn T thì tại Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2018/QĐXXST-HS ngày 25/6/2018, Tòa án đưa anh T tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Nhưng tại phiên tòa xác định được số tiền mà anh T dùng để hoàn trả cho anh Lâm Quang S 3.000.000 đồng và bồi thường cho ông Hồ Văn X 2.300.000 đồng đã được bị cáo trả lại cho anh Nguyễn Văn T đầy đủ. Anh T khẳng định quyền lợi hợp pháp của anh được đảm bảo. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xác định tư cách anh Nguyễn Văn T là ngươi có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong bản án.
Về tội danh và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Vào khoảng 01 giờ 30 phút ngày 04/01/2018, bị cáo Nguyễn Văn C lén lút vào nhà kho của ông Hồ Văn X trộm cắp 04 máy cắt cỏ, tổng trị giá 9.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của Nguyễn Văn C là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây trở ngại đến lao động sản xuất của ông Hồ Văn X, xâm phạm trật tự trị an trên địa bàn, gây tâm lý lo lắng trong nhân dân. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với một mức án nghiêm minh để cải tạo, giáo dục bị cáo. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ như: bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đầu thú, bị hại xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Văn C có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nghể nghiệp ổn định nên áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, để bị cáo tự tu dưỡng, rèn luyện bản thân trở thành người có ích cho xã hội.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
- Ông Hồ Văn X đã được Cơ quan cảnh sát điều tra trả lại 04 máy cắt cỏ và nhận số tiền bồi thường 2.300.000 đồng. Hiện tại, ông X không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Xe mô tô BKS 74F2- 1441 thuộc sở hữu của chị Lê Thị B (mẹ vợ Nguyễn Văn C). Chị B cho Nguyễn Văn C mượn xe mô tô làm phương tiện đi lại chứ không biết C sử dụng vào việc phạm tội. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Gio Linh đã trả lại chiếc xe cho chị B là đúng pháp luật.
- Trong khi thực hiện hành vi phạm tội, Nguyễn Văn C đã dùng điện thoại hiệu OPPO 1201EX của mình để chiếu sáng quan sát tìm tài sản. Xét thấy, máy điện thoại đang còn giá trị sử dụng nên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
- Sợi dây cao su mà Nguyễn Văn C sử dụng để buộc các máy cắt cỏ không có giá trị nên tịch thu và tiêu hủy.
Đối với anh Nguyễn Hữu T là người giao dịch bán máy cho Nguyễn Văn C nhưng anh T không hề biết tài sản do C phạm tội mà có và không hưởng lợi trong các giao dịch mua bán này nên không xử lý là đúng quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (06/7/2018).
Giao bị cáo Nguyễn Văn C cho UBND xã G, huyện G, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu, nộp vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu OPPO 1201EX, số Imei 860885031042412, màu trắng.
- Tịch thu và tiêu hủy 01 sợi dây cao su màu đen (dài 3,5m, rộng 1cm).
Các vật chứng trên hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Gio Linh theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/6/2018 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Gio Linh.
3. Án phí: Bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Gio Linh; - VKSND tỉnh Quảng Trị; - Cơ quan CSĐT Công an huyện Gio Linh; - Cơ quan THAHS Công an huyện Gio Linh; - Chi cục THADS huyện Gio Linh; - TAND tỉnh Quảng Trị; - Bị cáo; - Bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Ngô Ngọc Tính |