- Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - Bị truy tố tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lâm Trinh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M TỈNH ĐỒNG NAI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2018/HS-ST Ngày: 27/3/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Tường Vy.
Các Hội thẩm nhân dân
+ Ông: Nguyễn Minh Hiếu Trung;
+ Bà: Thái Thị Thủy Tiên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Trực, Thư ký Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Báu - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2018/TLST-HS ngày 02 tháng 02 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2018/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 02 năm 2018 và thông báo số: 38/TB-TA ngày 26 tháng 02 năm 2018 về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa sơ thẩm đối với bị cáo:
Lâm Trinh T - Sinh năm 1983 tại Đồng Nai.
- Tên gọi khác: Sáng.
- HKTT: ấp G, xã G, TX. K, tỉnh Đồng Nai.
- Chỗ ở: ấp G, xã G, TX. K, tỉnh Đồng Nai.
- Nghề nghiệp: bảo vệ; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12;
- Dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam;
- Họ và tên cha ruột: không rõ.
- Họ và tên cha nuôi: Lâm Sỳ S – Sinh năm: 1943.
- Họ và tên mẹ ruột: Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1962.
- Họ và tên mẹ nuôi: Nguyễn Thị H, sinh năm 1954 (chết)
- Bị cáo chưa có vợ con.
- Tiền án, tiền sự: không;
- Nhân thân: Ngày 13/12/2002, bị Tòa án nhân dân huyện K xử phạt 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 42 tháng về tội “Cố ý gây thương tích”, quy định tại điểm a khoản 1, 2 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999, hiện đã được xóa án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giữ (khẩn cấp) từ ngày 20/11/2017 đến ngày 23/11/2017, được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh số 04 ngày 23/11/2017 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M.
(Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa)
- Bị hại: Ông Lâm Sỳ S – Sinh năm: 1943. Địa chỉ: ấp H, xã B, huyện M, tỉnh Đồng Nai (Có mặt)
- Người làm chứng:
+ Chị Võ Thị Kim Lủy – Sinh năm: 1984 (Vắng mặt)
+ Chị Lâm Trinh Phượng – Sinh năm: 1981(Vắng mặt)
+ Chị Nguyễn Thị Nhí – Sinh năm: 1987(Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: ấp H, xã B, huyện M, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lâm Trinh T là con nuôi của ông Lâm Sỳ S, sinh năm 1943 ngụ tại ấp H, xã B, huyện M, tỉnh Đồng Nai.
Do không có tiền tiêu xài nên khoảng 13 giờ 30 phút ngày 19/11/2017, T đón xe taxi từ thị xã K để đến nhà ông S xin tiền. Khi đến nơi, T thấy nhà khóa cửa, ông S đi vắng nên đã nảy sinh ý định đột nhập vào nhà ông S lấy trộm tiền tiêu xài. Lúc này, T dùng một chìa khóa hiệu Zsolex mang theo trên người đút vào ổ khóa cửa chính, vặn khoảng 02 phút thì mở được ổ khóa. T đi xuống phòng bếp lấy 01 cái kìm bằng kim loại, cán bọc cao su màu đen rồi lên phòng ngủ ông S, do cửa phòng khóa nên T dùng kìm đập khoảng 05 phút làm ổ khóa bung ra. T mở cửa phòng rồi đi đến tủ gỗ, dùng kìm bẻ khóa tủ lấy được 01 cọc tiền. Sau đó, T đi đến tiệm cắt tóc của chị Nguyễn Thị N (cạnh nhà ông S) nhờ chị N cùng đếm giúp cọc tiền vừa chiếm đoạt được. T và N đếm được tổng cộng là 13.000.000 đồng (gồm 20 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 17 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng và các tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, 20.000 đồng, 50.000 đồng, T không nhớ cụ thể bao nhiêu tờ), đếm xong chị N đưa tiền lại cho T nên T đón taxi về lại thị xã K tiêu xài hết số tiền 8.000.000 đồng, còn lại 5.000.000 đồng. Do lúc đếm tiền T có nói cho chị N biết số tiền này là do T lấy trộm của ông S nên khi T bỏ đi, chị N đã nhờ chị Võ Thị Kim L trình báo Công an xã B nên sự việc được phát hiện, xử lý.
Vật chứng thu giữ:
+ 5.000.000 đồng (gồm 10 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 500.000 đồng) do Lâm Trinh T giao nộp. Hiện đã trả lại cho ông Lâm Sỳ S.
+ 01 chìa khóa, hiệu Zsolex, làm bằng kim loại, màu trắng, kích thước 3,5cmx01cm; 01 cái kìm bằng kim loại, cán bọc cao su màu đen, lưỡi có khấc răng cưa, kích thước 25cmx05cm; 01 ổ khóa hiệu Vinalock Top Sencurity 50mm, ổ khóa ở trạng thái đóng, có 02 ốc vít móc bên trong khuyên khóa. Hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện M.
Về trách nhiệm dân sự:
+ Ông Lâm Sỳ S đã nhận lại số tiền 5.000.000 đồng và không yêu cầu bị cáo T bồi thường gì thêm về dân sự.
Bị cáo Lâm Trinh T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và nội dung bản cáo trạng.
Bản cáo trạng số: 07/CT-VKS ngày 02 tháng 02 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Lâm Trinh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh Đồng Nai vẫn giữ nguyên cáo trạng.
Bị cáo Lâm Trinh T nói lời sau cùng: bị cáo rất hối hận về hành vi của mình và xin HĐXX xem xét để có thể giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo sớm về với gia đình làm công dân tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Chỉ vì muốn có tiền tiêu xài cho bản thân và khi đến nhà cha nuôi là Lâm Sỳ S xin tiền nhưng không có ông S ở nhà nên T đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Lâm Trinh T đã lấy chìa khóa mở cửa nhà ông S và dùng kìm đập ổ khóa phòng ngủ của ông S và bẻ cả khóa tủ lấy đi số tiền 13.000.000 đồng.
Tại phiên tòa hôm nay, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan, người làm chứng và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Với những chứng cứ trên, đã có đủ cơ sở kết luận: Cáo trạng của VKSND huyện M, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Lâm Trinh T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 BLHS năm 1999. Tuy nhiên, theo nguyên tắc có lợi cho người phạm tội nên cần áp dụng Bộ luật hình sự năm 2015, theo đó hành vi phạm tội của bị cáo T áp dụng theo khoản 1 Điều 173 BLHS 2015 là phù hợp.
Xét thấy, bị cáo T đã trưởng thành, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Nhưng vì muốn có tiền tiêu xài bị cáo đã đi vào con đường phạm tội. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nó xâm phạm trực tiếp quyền sở hữu hợp pháp của người khác, đồng thời gây mất an ninh, trật tự tại địa phương.
Để đưa ra mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo, HĐXX cần xem xét toàn bộ các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; 1 phần tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS 2015.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo là không có.
Với những nhận định trên xét cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành một công dân tốt, có ích cho xã hội.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật TTHS. Qua quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo, bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện VKSND huyện M giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị xử phạt: bị cáo Lâm Trinh T mức án từ 08 tháng đến 12 tháng tù giam.
Ý kiến của VKS phù hợp với ý kiến của HĐXX nên ghi nhận.
* Về biện pháp tư pháp:
- 5.000.000 đồng đã giao trả lại cho ông Lâm Sỳ Sắc, nên không đặt ra xem xét.
- 01 chìa khóa, hiệu Zsolex, làm bằng kim loại, màu trắng, kích thước 3,5cmx01cm; 01 cái kìm bằng kim loại, cán bọc cao su màu đen, lưỡi có khấc răng cưa, kích thước 25cmx05cm; 01 ổ khóa hiệu Vinalock Top Sencurity 50mm, ổ khóa ở trạng thái đóng, có 02 ốc vít móc bên trong khuyên khóa. Xét các vật chứng này hiện cũng không còn có giá trị sử dụng nên tuyên tịch thu tiêu hủy.
* Về trách nhiệm dân sự: ông Lâm Sỳ S không có yêu cầu nên không xem xét.
Về án phí: Bị cáo Lâm Trinh T nộp 200.000 đồng án phí HSST.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Lâm Trinh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Áp dụng khoản 1 Điều 173 điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS 2015. Xử phạt: bị cáo Lâm Trinh T: 10 (Mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án (khấu trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/11/2017 đến ngày 23/11/2017).
- Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS 2015; điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS 2015. Tịch thu và tiêu hủy: 01 chìa khóa, hiệu Zsolex, làm bằng kim loại, màu trắng, kích thước 3,5cmx01cm; 01 cái kìm bằng kim loại, cán bọc cao su màu đen, lưỡi có khấc răng cưa, kích thước 25cmx05cm; 01 ổ khóa hiệu Vinalock Top Sencurity 50mm, ổ khóa ở trạng thái đóng, có 02 ốc vít móc bên trong khuyên khóa.
Hiện các vật chứng trên đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện M, tỉnh Đồng Nai.
- Về án phí: Điều 135 BLTTHS 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Lâm Trinh T nộp 200.000 đồng án phí HSST.
Bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh, huyện; - Sở tư pháp Đồng Nai - Cơ quan CSĐT Công huyện; - Chi cục THADS; - Bị cáo; - Các đương sự; - Lưu HS,AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Phạm Thị Tường Vy |