- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho chị Võ Thị V được ly hôn anh Đào Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 08/2018/HNGĐ-ST Ngày 26-10-2018 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng T Thông.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Mai Dung và ông Trần Đăng Thanh.
- Thư ký phiên tòa:Ông Đinh Văn Tư - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh tham gia phiên tòa: Bà Quách Thùy Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 02/TLST-HNGĐ ngày 05-01-2018 về việc "ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2018/QĐST-HNGĐ ngày 27/9/2018, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:Chị Võ Thị V; Sinh năm: 1996; địa chỉ: Tổ dân phố L, phường K, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.
2. Bị đơn: Anh Đào Văn T; sinh năm: 1994; địa chỉ: Xóm X, xã H, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị Võ Thị V trình bày: Chị và anh Đào Văn T kết hôn với nhau vào ngày 10/3/2016 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, đã được hai bên gia đình và UBND xã H, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng sống với nhau được 02 tháng thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T xúc phạm chị, bắt đầu từ tháng 5/2016 vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Hiện chị V xác định không còn tình cảm với anh T nữa nên yêu cầu Tòa án cho chị được ly hôn anh T. Về con chung,quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là Đào Đức H - sinh ngày: 13-01-2017, nguyện vọng của chị V khi ly hôn là được quyền nuôi dưỡng con là Đào Đức H và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung chị V không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Đào Văn T trình bày tại đơn đề nghị ngày 23/01/2018 và Biên bản hòa giải ngày 24/01/2018: Anh và chị V cưới nhau về chung sống chưa được bao lâu thì chị V bỏ về nhà mẹ đẻ, khi đi chị V có mang theo 40 triệu đồng và 01 cây vàng sau đó về nhà ngoại sinh sống và sinh con là Đào Đức H. Nay anh T xác định vẫn còn tình cảm với chị V nên không nhất trí ly hôn. Về con chung anh yêu cầu nếu ly hôn được quyền nuôi dưỡng con là Đào Đức H - sinh ngày: 13-01-2017 và không yêu cầu chị V cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung anh T yêu cầu Tòa án giải quyết số tiền 01 cây vàng và 40 triệu đồng chị V đang giữ.Tại phiên tòa hôm nay anh T cho rằng anh không còn tình cảm gì với chị V nữa nhưng không nhất trí ly hôn vì còn có con chung. Về tài sản và nợ chung anh T không yêu cầu Tòa giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71 và Điều 234 của Bộ luật tố tụng dân sự.Bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 72và Điều 234 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Về tình cảm: Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không thể đạt được vì vậy căn cứ vào Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho chị Võ Thị V được ly hôn anh Đào Văn T. Về con chung: Đề nghị căn cứ vào khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình giao con Đào Đức H cho chị Võ Thị V trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Võ Thị V về không yêu cầu anh Đào Văn T phải cấp dưỡng tiền nuôi con. Về tài sản chung: Đề nghị HĐXX không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nội dung vụ án, Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Chị Võ Thị V và anh Đào Văn T kết hôn với nhau hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Kỳ Hoa, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Chị V cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng là do anh T xúc phạm chị. Anh T mong muốn vợ chồng về đoàn tụ, tuy nhiên quá trình hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã Kỳ Hoa anh T bỏ ra về không hợp tác hòa giải, quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án anh T không hợp tác, không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Tại phiên tòa anh T mặc dù không nhất trí ly hôn nhưng khẳng định hiện anh không còn tình cảm gì với chị V nữa. Xét thấy, anh T và chị V thực sự đã không còn tình cảm yêu thương nhau, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 5/2016 mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không thể đạt được vì vậy căn cứ vào Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho chị Võ Thị V được ly hôn anh Đào Văn T.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Đào Đức H sinh ngày: 13/01/2017 (đến thời điểm xét xử được 21 tháng). Các bên đương sự đều yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy cháu Đào Đức H hiện dưới 36 tháng tuổiquyền nuôi con thuộc về người mẹ, chị Võ Thị V đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì vậy căn cứ vào khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình giao con Đào Đức H cho chị Võ Thị V trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Võ Thị V về không yêu cầu anh Đào Văn T phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung: Chị Võ Thị V không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản chung.Anh Đào Văn T yêu cầu Tòa án giải quyết đối với tài sản chung của vợ chồng là 40 triệu đồng và 01 cây vàng do chị V đang giữ, tuy nhiên anh T không nộp tiền tạm ứng án phí theo thông báo của Tòa án cũng như không chấp hành theo giấy triệu tập tham gia tố tụng, tại phiên tòa anh T không yêu cầu giải quyết đối với tài sản chung. Vì vậy căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử không xem xét đối với yêu cầu của anh Đào Văn T. Anh T được quyền khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung sau khi ly hôn theo quy địnhcủa pháp luật.
Về án phí: Chị Võ Thị V là nguyên đơn trong vụ án hôn nhân và gia đình nên phải nộp án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 58; khoản 3 Điều 81; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho chị Võ Thị V được ly hôn anh Đào Văn T.
2. Về con chung: Giao cháu Đào Đức H - sinh ngày: 13-01-2017 cho chị Võ Thị V trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu Hiếu đủ 18 tuổi. Anh Đào Văn T không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi dưỡng con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về án phí: Chị Võ Thị V phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng)án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Nhưng được khấu trừ số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền số 0006766, tiền án phí chị V đã nộp đủ.
4. Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn chị Võ Thị V, bị đơn anh Đào Văn T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND thị xã Kỳ Anh; - Chi cục THADS thị xã Kỳ Anh; - Các đương sự; - UBND xã Kỳ Hoa; - Lưu Hồ sơ; VP-TA. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Hoàng Trung Thông THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |