vanban.org

Bản án 08/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Thị Mỹ L là được ly hôn anh Trần Văn C.

Chấp nhận cho chị L được tiếp tục nuôi con chung tên Trần Thị Mỹ T, sinh ngày 18/10/2010; Chị L không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con. Anh C được quyền thăm nom chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Bùi Thị Mỹ L yêu cầu ly hôn Anh Trần Văn C"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Thị Mỹ L là được ly hôn anh Trần Văn C.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BÌNH MINH
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08 /2018/HNGĐ-ST
Ngày: 30/01/2018
Về việc:“ Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH,TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phú Hữu

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Ông Nguyễn Văn Thiên

2.Ông Bùi Văn Khanh

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Hồng, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh.

- Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long

( Không tham gia phiên tòa)

Ngày 30 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Bình Minh tỉnh Vĩnh Long mở phiên tòa xét xử hôn nhân sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 283/2017/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2017 về việc: “ Xin ly hôn ”

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2017/QĐXX-ST ngày 28 tháng 12 năm 2017; giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Mỹ L, sinh năm 1993

Địa chỉ: Tổ 02, ấp L, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long.

- Bị đơn: Anh Trần Văn C, sinh năm 1985

Địa chỉ: Tổ 05, khóm B, phường T, thị xã M, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn đề ngày 29/8/2017 chị Bùi Thị Mỹ L trình bày: Chị kết hôn với anh C hồi năm 2009, có đăng ký kết hôn và có một con chung tên Trần Thị Mỹ T, sinh ngày 18/10/2010 đang sống với chị. Do vợ chồng bất đồng quan điểm và thường xuyên cải nhau nên đã ly thân từ tháng 11/2010 cho đến nay. Do đó chị xin ly hôn anh C và tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh Ch đã có mâu thuẫn trầm trọng dẫn đến ly thân thời gian dài. Do đó Tòa án mời hòa giải nhiều lần nhằm tạo điều kiện cho hai người đoàn tụ nhưng anh C vẫn không đến. Điều đó cho thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu của chị L là được ly hôn anh C.

Xét về con chung là Trần Thị Mỹ T, sinh ngày 18/10/2010 đang sống với chị L và có nguyện vọng tiếp tục sống với mẹ nên chấp nhận cho chị L tiếp tục nuôi; Chị L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các điều 56, 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình.

- Chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Thị Mỹ L là được ly hôn anh Trần Văn C.

- Chấp nhận cho chị L được tiếp tục nuôi con chung tên Trần Thị Mỹ T, sinh ngày 18/10/2010; Chị L không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.

Anh C được quyền thăm nom chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

Án phí: Chị L nộp 300.000đ ( ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí tại biên lai số 0008818; Chi cục Thi hành án dân sự thị xã M thu ngày 02/10/2017.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Có mặt nguyên đơn báo cho biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh C vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo được tính từ ngày giao bản án hoặc niêm yết.

Cỡ chữ