vanban.org

Bản án 08/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vũ Thị Thúy H - Lại Quốc H"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!
THÀNH!PHỐ!PHỦ!LÝ!!
TỈNH!HÀ!NAM!
Bản án số: 08/2018/HNGĐ - ST.
Ngày 09/3/2018.
V/v “Tranh chấp kiện ly hôn”.

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!PHỦ!LÝ!–!TỈNH!HÀ!NAM!

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:! Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Duy. CácHội thẩm nhân dân: Ông Vũ Ngọc Thi và ông Trịnh Văn Chi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Nhung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thuý Tình - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 3 năm 2018, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 168/2017/TLST- HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2017, về tranh chấp kiện xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 01 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2018/QĐST – HNGĐ ngày 12/02/2018, giữa các đương sự: 1.!Nguyên!đơn: Chị Vũ Thị Thuý H, sinh năm 1981. Địa chỉ: tổ 10, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam. 2.!Bị!đơn: Anh Lại Quốc H, sinh năm 1981. Địa chỉ: tổ 10, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam.

( Phiên toà có mặt chị H, anh H vắng mặt không có lý do).

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

* Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Vũ Thị Thuý H có quan điểm:

Chị kết hôn với anh Lại Quốc H do cả hai bên tự nguyện sau thời gian tìm hiểu nhau được 02 năm và có đăng ký kết hôn ngày 28/7/2003 tại UBND phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam. Việc kết hôn của vợ chồng chị cũng được gia đình hai bên có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán của địa phương. Sau kết hôn vợ chồng sống hoà thuận đến năm 2010 thì vợ chồng chị đã nảy sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyªn nh©n lµ vợ chồng chị không còn hợp nhau do bÊt ®ång quan ®iÓm sèng vµ c¸ch sèng cho nªn vợ chồng lu«n x¶y ra m©u thuÉn, khiÕn cho cuéc sèng chung lu«n x¶y ra viÖc c·i v·, t×nh c¶m vî chång r¹n nøt, kh«ng cßn tiÕng nãi chung n÷a. Do những mâu thuẫn đã quá trầm trọng và kéo dài nên vợ chồng chị đã sống ly thân nhau ®Õn nay ®· gÇn hơn 3 th¸ng nay và vợ chồng chị kh«ng ai cßn quan t©m ®Õn cuéc sèng cña nhau. Đến nay, t×nh c¶m chị dµnh cho anh H kh«ng cßn nữa và mục đích hôn nhân không đạt được do m©u thuÉn ®· qu¸ trÇm träng. V× vËy, chị ®Ò nghÞ Tßa ¸n gi¶i quyÕt cho chị ®­îc ly h«n với anh L¹i Quèc H.

* Tại bản tự khai anh Lại Quốc H có quan điểm:

Về thời gian, địa điểm, điều kiện kết hôn, thời gian chung sống, nguyên nhân mâu thuẫn, thời gian vợ chồng sống ly thân như chị H khai là đúng. Trước yêu cầu xin ly hôn của chị H thì anh xin đoàn tụ vì anh thương các con anh còn nhỏ.

Về con chung: Vợ chồng thống nhất có 02 con chung là cháu Lại Thảo V, sinh ngày 26/7/2004 (con gái) và Lại Thái S (con trai), sinh ngày 22/10/2010. Hiện nay, cả 02 cháu đang ở với chị H do chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Nếu ly hôn chị H xin nuôi cả 02 con chung và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Anh H thì xin nuôi 01 con chung, con nào cũng được và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung. Con nuôi, con riêng: Vợ chồng thống nhất không có. Hiện chị H không có thai nghén gì.

Về tài sản chung và công nợ chung: Vợ chồng thống nhất không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

* Nguyện vọng của cháu Lại Thảo V: Hiện nay cháu đang học lớp 8A3 trường Trung học cơ sở T và mẹ cháu đang nuôi cháu cùng em cháu nên nếu bố mẹ cháu ly hôn thì cháu xin ở với mẹ cháu.

* Nguyện vọng của cháu Lại Thái S: Hiện nay cháu đang học lớp 2A trường Tiểu học M và mẹ cháu đang nuôi cháu cùng chị cháu nên nếu bố mẹ cháu ly hôn thì cháu xin ở với mẹ cháu.

Tại phiên toà hôm nay:

* Chị H có quan điểm: Chị vẫn giữ nguyên quan điểm như trước đó đã trình bày tại Tòa án. Về hôn nhân chị vẫn xin ly hôn với anh H. Về con chung: Chị vẫn xin được nuôi 02 con chung Lại Thảo V, Lại Thái S và chị không đề nghị anh H cấp dưỡng nuôi con chung vì hiện nay anh H không có mặt tại địa phương do đi trốn nợ và bản thân chị có việc làm và chỗ ở ổn định, có đủ điều kiện để nuôi các con chung.

* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), những người tham gia tố tụng; ý kiến về việc giải quyết vụ án.

-Ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, HĐXX, Thư ký:

+ Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn như: thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục trong giai đoạn chuẩn bị xét xử.

+ Việc tuân theo pháp luật của HĐXX và Thư ký tại phiên tòa: Tại phiên tòa hôm nay HĐXX và Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

+ Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, cụ thể. Anh H vắng mặt tại các phiên họp về việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 01/12/2017, ngày 19/12/2017, phiên tòa ngày 12/02/2018, phiên tòa hôm nay ngày 09/3/2018.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Sau khi trình bày và phân tích các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xem xét quan điểm, nguyện vọng của đương sự tại phiên tòa. Đề nghị HĐXX xem xét, quyết định:

Căn cứ điều 28, 35, 39, 144, 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ điều 54, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1/ Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị H với anh H. Xử ly hôn giữa chị H với anh H.

2/ Về con chung: Giao chị H được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dực cả 02 con chung là Lại Thảo V, sinh ngày 26/7/2004 (con gái) và Lại Thái S, sinh ngày 22/10/2010 (con trai). Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị H phải nộp theo quy định của pháp luật.

!

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Sau khi thảo luận và nghị án. HĐXX, thấy:

[1] Về thẩm quyền: Xét thấy yêu cầu xin ly hôn của chị Vũ Thị Thuý H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung: Cuộc hôn nhân giữa chị Vũ Thị Thuý H và anh Lại Quốc H là hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 28/7/2003 tại UBND phường, thành phố P, tỉnh Hà Nam, nên đã thoả mãn các điều kiện, trình tự thủ tục kết hôn được Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 bảo vệ.

Xét yêu cầu xin ly hôn của Vũ Thị Thuý H, HĐXX thấy:

Sau kết hôn vợ chồng chị H, anh H cũng có thòi gian dài gần 10 năm chung sống hoà thuận nhưng sau đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do không còn hợp nhau về quan điểm sống, cách sống được hai bên công khai thừa nhận và vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ tháng 11 năm 2017 đến nay. Quá trình ly thân vợ chồng không quan tâm chăm sóc đến nhau và chấm dứt mọi quan hệ tình cảm. Tại phiên hòa giải và tại phiên tòa hôm nay, Tòa án và HĐXX đã phân tích, khuyên bảo chị H về đoàn tụ với anh H, nhưng chị H vẫn cương quyết xin được ly hôn với anh H vì xác định tình cảm chị dành cho anh H không còn, mâu thuẫn giữa chị và anh H đã thật sự trầm trọng. Nguyện vọng của anh H xin đoàn tụ vợ chồng vì thương các con chung còn nhỏ. Tuy nhiên, Toà án đã triệu tập anh tham gia hoà giải ngày 01/12/2017, ngày 19/12/2017 và tại phiên toà ngày 12/02/2018, phiên tòa hôm nay nhưng anh H đều vắng mặt và bản thân anh H hiện nay cũng không có mặt tại địa phương chứng tỏ anh H không có thiện chí để cải thiện tình cảm vợ chồng. Xét thấy, mâu thuẫn của vợ chồng chị H, anh H đã thật sự trầm trọng, đời sống không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H là phù hợp với thực tế và pháp luật được quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về con chung: Vợ chồng thống nhất có 02 con chung là cháu Lại Thảo V, sinh ngày 26/7/2004 (con gái) và Lại Thái S (con trai), sinh ngày 22/10/2010. Xét nguyện vọng xin nuôi con chung của chị H, anh H và nguyện vọng của các cháu Lại Thảo V, Lại Thái S đều muốn được ở với mẹ (chị H). Hội đồng xét xử thấy, hiện nay chị H đang là người trực tiếp nuôi các con chung, chị cũng có việc làm và thu nhập ổn định. Bản thân anh H hiện nay không có mặt tại địa phương. Do đó cần giao các con chung Lại Thảo V, Lại Thái S cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp với thực tế và pháp luật.

[4] Về tài sản chung và công nợ chung: Các đương sự thống nhất không có, không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.

[5] Về án phí: Chị H phải nộp theo quy định của pháp luật.

[6] Vềquyền kháng cáo: Các đương sự thực hiện theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT!ĐỊNH:!

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 39; điều 143; điều 144; điều 147; điều 177; điều 179; điều 227; điều 228; điều 271; điều 273; điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ các Điều 54, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[1] Xử ly hôn giữa: Chị Vũ Thị Thuý H và anh Lại Quốc H.

[2] Về con chung: Giao chị Vũ Thị Thuý H được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung của vợ chồng là cháu Lại Thảo V, sinh ngày 26/7/2004 (con gái) và cháu Lại Thái S, sinh ngày 22/10/2010 (con trai). Anh Lại Quốc H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Hai bên có đầy đủ quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Không bên nào được cản trở quyền gặp gỡ, chăm sóc và thăm nom con chung.

[3] Về tài sản chung và công nợ chung: Chị Vũ Thị Thuý H và anh Lại Quốc H thống nhất không đề nghị Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

[4] Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Vũ Thị Thuý H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đ. Chị H được đối trừ với 300.000đ đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số AA/2015/0000798 ngày 20/11/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam. Chị H đã nộp đủ.

Án xử công khai sơ thẩm, chị H có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh H vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ