vanban.org

Bản án 08/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Về hôn nhân: Chị Bùi Thị A được ly hôn với anh Đỗ Như H .

[2]. Về con chung: Giao con chung là cháu Đỗ Thị Thanh H , sinh ngày 03 tháng 01 năm 2013 cho chị Bùi Thị A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh H chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Bùi Thị Ảnh kiện xin ly hôn anh Đỗ Như H"
  • Tòa quyết gì? [1]. Về hôn nhân: Chị Bùi Thị A được ly hôn với anh Đỗ Như H .
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẠC SƠN
TỈNH HOÀ BÌNH
{

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 09/03/2018
V/v. Tranh chÊp vÒ
H«n nh©n vµ Gia ®×nh

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN - TỈNH HOÀ BÌNH

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Bùi Văn Cương

- Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Bùi Văn Thiệu;

2. Ông: Bùi Văn Ơn

- Thư ký ghi biên bản phiên toà bà: Hoàng Thị Khánh Linh - Thư ký toà án nhân dân huyện Lạc Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà ông Lê Xuân Trường - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn.

Ngày 09 tháng 03 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn- tỉnh Hòa Bình. Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 17/2018/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 01 năm 2018 về tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2018/QĐXX-ST ngày 21/02/2018 và giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: chị Bùi Thị A. Sinh năm 1988. Địa chỉ: xóm Xưa Thượng, xã Xuất Hóa, huyện Lạc Sơn, Hòa Bình. Có mặt

2. Bị đơn: anh Đỗ Như H , sinh năm 1983.Địa chỉ: xóm Xưa Thượng, xã Xuất Hóa, huyện Lạc Sơn, Hòa Bình. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Bùi Thị A trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Đỗ Như H có tìm hiểu và đăng ký kết hôn với nhau năm 2009 tại UBND xã Xuất Hóa trên cơ sở tự nguyện và hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chuyển về sống với mẹ đẻ của anh Đỗ Như H . Thời gian đầu chung sống, vợ chồng yêu thương nhau, cuộc sống hôn nhân hạnh phúc. Nhưng từ năm 2016 đến nay, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do anh H ghen vì chị ngoại tình, không còn tin tưởng lẫn nhau thường xuyên đánh đập chị. Do bị đánh mắng nhiều lần nên chị quá sợ hãi đã bỏ trốn khỏi nhà. Cuối năm 2017, chị sợ hãi mang theo con gái nhỏ bỏ đi, tuy nhiên thời gian sau con gái lớn của anh chị đột ngột qua đời nên chị quay trở về. Sau khi trở về anh H không thay đổi tiếp tục đánh chị nên hiện nay chị đã bỏ trốn khỏi nhà. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị làm đơn xin ly hôn để giải thoát cho cả hai.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, anh chị có 02 con chung là cháu Đỗ Thanh Hiền (sinh ngày 24/12/2009) và cháu Đỗ Thị Thanh H (sinh ngày 03/01/2013). Tuy nhiên, cuối năm 2017, cháu Hiền đã đột ngột qua đời. Hiện nay, chị bỏ trốn thì cháu Đỗ Thị Thanh H đang ở với anh H . Vợ chồng ly hôn chị A có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu Đỗ Thị Thanh H và chưa yêu cầu anh H thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn.

Tại phiên tòa chị A giữ nguyên quan điểm.

Về tài sản chung; công nợ chung: Chị và anh H tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị anh Đỗ Như H trình bày:

Về thời điểm kết hôn và quá trình vợ chồng chung sống như chị A trình bày là đúng. Tình cảm vợ chồng ban đầu chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Từ năm 2016 đến nay, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do chị A có hành vi ngoại tình. Anh đã rất nhiều lần đánh mắng chị A. Do bị đánh mắng nhiều lần nên chị A quá sợ hãi đã bỏ trốn khỏi nhà. Cuối năm 2017, chị A sợ hãi mang theo con gái nhỏ bỏ đi, tuy nhiên thời gian sau con gái lớn của anh chị đột ngột qua đời nên chị A quay trở về. Sau khi trở về vì ám ảnh chị A có hành vi ngoại tình trước đó nên khi uống rượu, không giữ được bình tĩnh anh tiếp tục đánh chị A nên hiện nay chị ảnh đã bỏ trốn khỏi nhà. Tuy nhiên anh vẫn yêu thương vợ con nên chị A đề nghị ly hôn anh không đồng ý.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, anh chị có 02 con chung là cháu Đỗ Thanh H (sinh ngày 24/12/2009) và cháu Đỗ Thị Thanh H (sinh ngày 03/01/2013). Tuy nhiên, cuối năm 2017, cháu Hiền đã đột ngột qua đời. Hiện nay, chị A bỏ trốn thì cháu Đỗ Thị Thanh H đang ở với anh. Vợ chồng ly hôn anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu Hòa và chưa yêu cầu chị A cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn.

Về tài sản chung và tài sản chung: anh chị xác nhận tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa anh Đỗ Như H thay đổi quan điểm về quan hệ hôn nhân là đồng ý ly hôn với chị Đỗ Thị Ảnh, những vấn đề khác anh giữ nguyên quan điểm như biên bản hòa giải, biên bản lấy lời khai của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án.

* Tại biên bản xác minh ngày ngày 12/02/2018 của Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn chính quyền địa phương nơi cư trú của anh Đỗ Như H và chị Bùi Thị A có nội dung:

Anh Đỗ Như H và chị Bùi Thị A kết hôn năm 2009 trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND xã Xuất Hóa. Trước khi kết hôn với chị A, anh H đã từng có một đời vợ. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng từ năm 2016 đến nay vợ chồng xảy ra mâu thuẫn bất hòa, nguyên nhân là do anh H cho rằng chị A có quan hệ ngoại tình với người khác. Anh H đã rất nhiều lần đánh mắng chị A. Do bị đánh mắng nhiều lần nên chị A quá sợ hãi đã bỏ trốn khỏi nhà. Cuối năm 2017, chị A sợ hãi mang theo con gái nhỏ bỏ đi, tuy nhiên thời gian sau con gái lớn của anh chị đột ngột qua đời nên chị A quay trở về. Sau khi trở về anh H không thay đổi tiếp tục đánh chị A nên hiện nay chị ảnh đã bỏ trốn khỏi nhà. Hai vợ chồng hiện nay đã li thân, khả năng đoàn tụ là rất khó.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, anh H và chị A có 02 con chung là cháu Đỗ Thanh Hiền (sinh ngày 24/12/2009) và cháu Đỗ Thị Thanh H (sinh ngày 03/01/2013). Tuy nhiên, cuối năm 2017, cháu Hiền đã đột ngột qua đời. Hiện nay, chị A bỏ trốn thì cháu Đỗ Thị Thanh H đang ở với anh Đỗ Như H .

Về điều kiện nuôi con của anh H và chị A: Anh H và chị A đều có công việc ổn định. Anh H có nghề nghiệp chính là làm ruộng và buôn bán kiếm thêm thu nhập, chị A có nghề nghiệp chính là nhân viên bán bảo hiểm . Anh H và chị A đều có chỗ ở ổn định nên điều kiện nuôi con của hai anh chị là ngang nhau. Tuy nhiên, cháu Hòa là con gái, lại đang còn nhỏ rất cần sự chăm sóc của người mẹ. Hơn nữa, anh H có lối sống bạo lực sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến tâm lý của cháu Hòa nếu sống chung với anh H . Vì vậy, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp con chưa thành niên đề nghị Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn giao cháu Hòa cho chị A trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục

*Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về tố tụng: Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình công nhận việc chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự của Thẩm phán, HĐXX và các đương sự từ khi thụ lý đến trước khi HĐXX nghị án.

Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: xác định mâu thuẫn giữa chị A và anh H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, tại phiên tòa các bên đương sự đã thuận tình ly hôn đề nghị Hội đồng xét xử công nhận thuận tình ly hôn giữa anh H và chị A.

- Về con chung: Đề nghị giao cháu Đỗ Thị Thanh H cho chị A trực tiếp nuôi dưỡng. Chị A chưa yêu cầu anh H thực hiện cấp dưỡng nuôi con chung nên đề nghị HĐXX chưa xem xét vấn đề cấp dưỡng nuôi con trong vụ án.

- Về tài sản chung; công nợ chung: anh H , chị A tự thoả thuận, không tranh chấp nên không đề cập giải quyết trong vụ án.

- Về án phí: chị A phải chịu án phí theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa HĐXX nhận ®Þnh:

1. Về tố tụng: Đây là vụ án Hôn nhân và Gia đình “Ly hôn,tranh chấp về nuôi con”. Bị đơn là anh Đỗ Như H có hộ khẩu thường trú tại xóm Xưa Thượng, xã Xuất Hóa, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Vì vậy,Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành thông báo và tống đạt đầy đủ các văn bản cho các bên đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 175 và khoản 1, 2 Điều 177 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định tại Điều 211 BLTTDS. Tiến hành hòa giải theo quy định tại Điều 205 BLTTDS để các bên đưỡng sự bên thỏa thuận với nhau việc giải quyết vụ án.

2 Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị A và anh H được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống chị A và anh H và không có hạnh phúc; do hai bên không còn tin tưởng nhau, anh H thường xuyên đánh đập chị A. Vì thế cuộc sống gia đình thường xuyên bất hòa.

Từ những nhận định trên mâu thuẫn giữa chị A và anh H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không thể đạt được, tại phiên tòa hai bên đã thuận tình ly hôn, việc thuận tình ly hôn là tự nguyện, không trái đạo đức xã hội nên HĐXX công nhận thuận tình ly hôn của chị A và anh H là phù hợp Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

3. Về con chung và cấp dưỡng:

Vợ chồng còn một con chung là cháu Đỗ Thị Thanh H , sinh ngày 03/01/2013. Nguyện vọng của chị A được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và chị A chưa yêu cầu anh H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn. Anh H cũng có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung và chưa yêu cầu chị A cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn.

Việc mong muốn trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con là nguyện vọng chính đáng của các bên đương sự. Xét thấy, chị A và anh H đều có công việc và thu nhập và chỗ ở ổn định và đều được sự giúp đỡ của hai bên gia đình nên có đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Như vậy, xét về điều kiện nuôi con của anh H và chị A là ngang nhau. Tuy nhiên, hiện nay cháu Hòa là con gái lại đang còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ. Hơn nữa, theo chị A trình bày và theo kết quả xác minh tại địa phương, anh H thường xuyên, đánh đập, chửi mắng, xúc phạm chị A, điều đó sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới việc hình thành nhân cách, hành vi ứng xử cũng như tương lai của con nếu anh H trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển về mọi mặt của cháu Hòa cần chấp nhận yêu cầu của chị A. Giao con chung cho chị A trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, do chị A chưa yêu cầu anh H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xem xét là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 luật Hôn Nhân và Gia đình.

4. Về tài sản chung; công nợ chung: Chị A và anh H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

5. Về án phí: chị A phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời gian luật định.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 59; Điều 81 , 82, 83, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 28, 147, 227; 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

[1]. Về hôn nhân: Chị Bùi Thị A được ly hôn với anh Đỗ Như H .

[2]. Về con chung: Giao con chung là cháu Đỗ Thị Thanh H , sinh ngày 03 tháng 01 năm 2013 cho chị Bùi Thị A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh H chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[3]. Về tài sản chung; công nợ chung: Chị A, anh H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4]. Về án phí: Chị A phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chị A được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0004299 ngày 29/01/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạc Sơn. Chị A đã nộp đủ án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thì hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

[5]. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ