vanban.org

Bản án 08/2018/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ vào: khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụn dân sự 2015; Điều 275, 280, 351, 471 Bộ luật Dân sự; Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 về họ, hụi, biêu, phường; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH về án phí lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị T. Buộc bà Nguyễn Thị P phải trả cho chị Ngô Thị T số tiền 26.500.000 đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "tranh chấp tièn phường giữa bà T và bà P"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ vào: khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụn dân sự 2015; Điều 275, 280, 351, 471 Bộ luật Dân sự; Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 về họ, hụi, biêu, phường; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH về án phí lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật tố tụn dân sự; Điều 227 Bộ luật tố tụn dân sự; Điều 228 Bộ luật tố tụn dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THÁI THỤY
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------
Bản án số: 08 /2018/DS - ST
Ngày 01/11/2018
V/v Tranh chấp tiền phường.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Ông Ngô Thế Tương

Các Hội thẩm nhân dân : Bà Phạm Hồng Thiêm và ông Ngô Văn Sang.

-Thư ký phiên tòa : Bà Bùi Thị Hảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy tham gia phiên tòa:

Không

Ngày 01 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 19/2018/TLST – DS ngày 02 tháng 8 năm 2018 về việc Tranh chấp nợ tiền phường theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2018/QĐXXST ngày 19 tháng 10 năm 2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Ngô Thị T, sinh năm 1973

( Có mặt )

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1956

( Có mặt ) Đều trú tại: thôn B, xã T.X, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề 16/5/2018 và trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Ngô Thị T trình bày trình bày: Vào năm 2014, chị có tham gia phường do bà Nguyễn Thị P đứng ra làm chủ phường. Phường bắt đầu từ ngày 14/8/2014 (Âm lịch). Hàng tháng mỗi người tham gia phường phải đóng cho bà Phượng số tiền 3.000.000 đồng. Bà P là người cầm cái, thu tiền nên được lấy tiền trước. Những người còn lại ai mua phường cao thì được lấy phường trước. Chị đã đóng cho bà P 16 chân phường với tổng số tiền là 48.000.000 đồng. Chị là người thứ 17 được lấy phường, chị mua phường hết 6.500.000 đồng. Tuy nhiên, sau khi chị mua được phường, bà P chỉ đưa cho chị 6.000.000 đồng. Số tiền còn lại bà P phải trả cho chị là 35.500.000 đồng. Chị đã nhiều lần đòi bà P trả tiền chị nhưng bà không trả. Ngày 11/5/2017, tại UBND xã T.X, Công an huyê ên Thái Thụy và công an xã T.X đã lâ êp biên bản làm viê êc về viê êc chị đòi tiền phường của bà P, tại buổi làm viê êc này, chị và bà P đã thống nhất xác định bà P còn nợ chị số tiền 27.000.000 đồng và hẹn đến ngày 10/12/2017 (Âm lịch) bà P phải trả chị hết số tiền này. Ngày 15/02/2018 (Âm lịch), bà P trả cho chị số tiền 500.000 đồng. Sau đó, mă êc dù chị đã nhiều lần yêu cầu bà P trả tiền nhưng bà không trả thêm cho chị bất kỳ mô êt khoản tiền nào. Nay chị yêu cầu Tòa án buô êc bà Nguyễn Thị P phải trả cho chị số tiền 26.500.000 đồng, chị không yêu cầu tính lãi.

Tại bản tự khai ngày 18/10/2018 và trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn - bà Nguyễn Thị P trình bày: Năm 2014, bà có đứng ra lâ êp mô êt phường với tổng số người tham gia phường là 21 người. Phường bắt đầu từ tháng 8/2014, theo quy định, mỗi người đóng 3.000.000 đồng tiền phường mô êt tháng. Do phường đóng từ năm 2014, năm 2015 chị T lấy tiền phường, khoảng thời gian đã lâu nên bà không nhớ cụ thể về viê êc mua, bán phường như thế nào nhưng bà xác định viê êc chị T trình bày về quá trình mua bán phường là đúng. Bà xác định đến nay bà còn nợ chị T số tiền 26.500.000 đồng. Nay chị Thu khởi kiê ên thì quan điểm của bà là bà nhâ ên nợ nhưng hoàn cảnh của bà đang rất khó khăn, chưa có tiền trả ngay cho chị T.

Tại biên bản hòa giải ngày 18/10/2018, chị T yêu cầu bà chị yêu cầu bà P phải trả cho chị 2.000.000 đồng/tháng, bà P có nguyện vọng được trả dần số nợ trên cho chị Phượng, hàng tháng bà trả chị P 200.000 đồng. Cả hai bên không thỏa thuận được về cách thức trả nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng: Đây là vụ án Tranh chấp về nợ phường thuộc thẩm quyền của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án nên vụ án được đưa ra xét xử theo thủ tục chung.

. Về yêu cầu của chị Ngô Thị T: Chị T và bà P đều xác định: Bà P là chủ phường, chị T là người tham gia phường, sau khi chị T mua được phường, bà P chưa thanh toán hết tiền phường cho chị T, hiện nay, bà P còn nợ chị T số tiền phường 26.500.000 đồng. Trong quá trình tố tụng, bà P công nhận toàn bộ ý kiến của chị T. Tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Theo quy định tại Điều 15 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 về họ, hụi, biêu, phường thì chủ họ (tức chủ phường) phải có nghĩa vụ thu tiền của các thành viên tham gia phường, có nghĩa vụ thu tiền của các thành viên tham gia phường, có nghĩa vụ giao cho các thành viên các phần được nhận. Bà P là chủ phường, đã thu đủ tiền của chị T và các thành viên tham gia phường nhưng giao thiếu cho chị T số tiền 26.500.000 đồng. Như vậy, bà P đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên cần áp dụng các Điều 275, 280, 351, 471 Bộ luật Dân sự buộc bà P phải trả cho chị T số tiền phường gốc là 26.500.000 đồng. Chị T không yêu cầu tính lãi nên không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Do yêu cầu của chị T được chấp nhận toàn bộ nên bà P phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 1.325.000 đồng.

Trả lại chị T số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên :

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụn dân sự 2015; Điều 275, 280, 351, 471 Bộ luật Dân sự; Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 về họ, hụi, biêu, phường; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH về án phí lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị T.

- Buộc bà Nguyễn Thị P phải trả cho chị Ngô Thị T số tiền 26.500.000 đồng.

- Chị T không yêu cầu tính lãi nên không đặt ra giải quyết.

Trong trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

2. Về án phí: Bà P phải nộp toàn bộ số tiền 1.325.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại chị T số tiền 1.300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0001521 ngày 02/8/2018 của Chi cục Thi hành án huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.

3.Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ