vanban.org

Bản án 08/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên Tuyên án 16/11/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

QUYẾT ĐỊNH 1. Tuyên bố bị cáo Lường Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

TAND tỉnh Điện Biên; VKSND huyện Tuần Giáo;

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lường Văn H phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy. - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình s…"
  • Tòa quyết gì? QUYẾT ĐỊNH 1. Tuyên bố bị cáo Lường Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 41 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUẦN GIÁO
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:08/2017/HSST
Ngày: 16/11/2017.

NHÂN DANH

NƯỚCCỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thấm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thương.

- Các Hội thẩm: Ông Lò Văn Pọm và bà Nguyễn Thị Huyền;

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Phương Thảo - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo tham gia phiên toà: Ông Phạm Minh Hưng - Kiểm sát viên.

Vào ngày 16 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở Tòa Án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 06/2017/HSST ngày 19 tháng 10 năm 2017 đối với bị cáo:

- Họ và tên: Lường Văn H; tên gọi khác: Không; sinh năm: 1970; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Bản K, xã Q, huyện T, tỉnh Đ; dân tộc: Thái; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Nông Nghiệp; trình độ văn hoá: Lớp 7; con ông: Lường Văn H, đã chết; con bà: Lò Thị H sinh năm 1919; bị cáo có vợ là Lò Thị N và có 04 người con. Tiền sự: Không; tiền án: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/8/2017 cho đến nay, có mặt.

NHẬN THẤY

Bị cáo Lường Văn H bị VKSND huyện Tuần giáo truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Hồi 10 giờ 20 phút ngày 03/8/2017, tổ công tác Công an huyện Tuần Giáo

làm nhiệm vụ tại bản K, xã Q, huyện T, đến nhà Lường Văn H thấy có biểu hiện nghi vấn , tổ công tác đã kiểm tra, phát hiện thu giữ trong túi quần bên trái H đang mặc 01 gói chất bột màu trắng. H khai nhận đó là hê rô in H mua về nhằm mục đích sử dụng.Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt giữ người có hành vi tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng.Tiếp tục khám xét nơi ở của Lường Văn H không phát hiện, thu giữ gì.

Tại cơ quan điều tra, Lường Văn H khai nhận: Vào khoảng 17 giờ ngày

02/8/2017, Lường Văn H đi bộtừ nhà đến bản S, xã Q để mua thức ăn.Trên đường về đến ngã ba đường rẽ và bản K, xã Q thì gặp một người đàn ông khoảng 35 tuổi, H không biết tên và địa chỉ đang đứng ven đường.Người đó chủ động hỏi H có mua hê rô in thì bán tre cho. H nhất trí mua. Người đó lấy trong người ra một gói hê rô in được gói bằng túi ni lông màu trắng đưa cho H và nói giá 1000.000đ. H nhất trí giá, nhận gói hê rô in và trả tiền cho người đó. Việc mua bán chỉ có hai người biết với nhau, không xác định trọng lượng. Sau khi mua được hê rô in, H mang về nhà và lấy một ít ra sử dụng ( bằng hình thức hít). Số còn lại cất vào túi quần đang mặc.Đến 10 giờ 20 phút ngày 03/8/2017, bị tổ công tác Công an huyện T phát hiện và thu giữ.

Ngày 04/8/2017, Cơ quan điều tra đã tiến hành mở niêm phong, xác định

trọng lượng và trích mẫu giám định vật chứng. Số hêrôin thu được của Lường Văn H được xác định trọng lượng là 3,84 gam.

Tại bản kết luận giám định số 689/GĐ- PC54 ngày 24/8/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Điện biên đã kết luận: Mẫu chất bột màu trắng đục được trích ra từ vật chứng thu giữ của Lường Văn Hùng là chất ma túy. Loại: Hê rô in.

Tại bản cáo trạng số 91/QĐ- VKS - HS ngày 18/10/2017, VKSND huyện

Tuần giáo đã truy tố bị cáo Lường Văn H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1 điều 194 BLHS.Tại phiên tòa, vị đại diện VKS đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 điều 194, điểm p khoản 1,2 Điều 46 BLHS năm 1999; điểm c khoản điều 249; khoản 3 Điều 7 BLHS 2015 xử phạt bị cáo Lường Văn H từ 36 tháng đến 42 tháng tù. Áp dụng Điều 41 BLHS, Điều 76 BLTTHS tuyên hủy 01 gói niêm phong hêrôin;trả cho bị cáo 01 điện thoại di động; không phạt bổ sung bằng tiền đối với Lường Văn H. Áp dụng Điều 99 BLTTHS, điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/QH, miễn án phí HSST cho bị cáo vì bị cáo sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn.

Người bào chữa cho bị cáo nhất trí tội danh và điều khoản truy tố , tình tiết giảm nhẹ TNHS của đại diện VKS đề nghị. Đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo ở mức thấp nhất của khung .

Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên

tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của KSV, bị cáo

XÉT THẤY

Bị cáo Lường Văn H bị bắt quả tang khi đang tàng trữ trái phép 3,84 gam

hêrôin. Số hêrôin này bị cáo tàng trữ nhằm mục đích sử dụng.

Tại phiên tòa , bị cáo khai nhận số hê rô in bị cơ quan điều tra thu giữ là của bị cáo. Bị cáo mua của một người không quen biết để sử dụng dần vì bị cáo nghiện ma túy. Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; bản kết luận giám định; biên bản mở niêm phong và xác định trọng lượng vật chứng cùng các chứng cứ tài liệu khác.

Hành vi mua hê rô in để sử dụng của Lường Văn H đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tội phạm được qui định tại khoản 1 điều 194 BLHS 1999, nay được qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015. So với khoản 1 Điều 194 BLHS năm 1999 thì khung hình phạt của khoản 1 Điều 249 BLHS nhẹ hơn nên cần áp dụng khoản 3 Điều 7 BLHS; áp dụng có lợi cho người phạm tội.

Bởi vậy, VKSND huyện Tuần giáo truy tố bị cáo theo tội danh và điều

khoản nêu trên là chính xác.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sự độc

quyền về quản lý chất ma túy của nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng đến sự phát triển giống nòi của dân tộc nên cần thiết phải xử lý nghiêm minh đối với hành vi phạm tội của bị cáo.

Xét tình tiết tăng nặng giảm nhẹ đối với bị cáo thấy: Tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo. Gia đình bị cáo có bố đẻ là Lường Văn H được tặng thưởng huân chương nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm p khoản 1,2 điều 46 BLHS. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Bị cáo sinh ra và lớn lên tại bản K, xã Q, huyện T. Bị cáo học hết lớp 7 nghỉ học.Tháng 3/1992 nhập ngũ, đóng quân tại sư đoàn 316 thuộc huyện Đ,tỉnh P. Tháng 3/1993 xuất ngũ về đia phương và lập gia đình. Ngày 03/8/2017, phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Là người thanh niên có sức khỏe nhưng không chịu rèn luyện bản thân, lao động chân chính để giúp đỡ vợ con. Vì lối sống buông thả bị cáo đã nghiện ma túy. Đó cũng là nguyên nhân dẫn bị cáo vào con đường phạm tội. Bởi vậy, cần áp dụng hình phạt tù giam để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội.

Bị cáo không có khả năng về kinh tế nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền theo qui định tại khoản 5 điều 194 BLHS.

Đối với người đi đàn ông đã bán hê rô in cho bị cáo, bị cáo khai không biết tên, địa chỉ nên cơ quan điều tra không có cơ sở xử lý.

Vật chứng vụ án là 1 gói hê rô in được niêm phong, cần áp dụng Điều 41

BLHS và Điều 76 BLTTHS tuyên tịch thu để hủy.Chiếc điện thoại di động không dùng vào việc phạm tội cần trả lại cho bị cáo.

Bị cáo sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn nên được

miễn án phí hình sự sơ thẩm theo qui định tại Nghị quyết 326/2016/QH.

Vì các lẽ trên ,

QUYẾT ĐỊNH 1. Tuyên bố bị cáo Lường Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. 2. Hình phạt: Áp dụng khoản 1 điều 194, điểm p khoản 1 điều 46 BLHS 1999; điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 3 Điều 7 BLHS 2015, xử phạt bị cáo Lường Văn H 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/8/2017. 3. Áp dụng điều 41 BLHS, điều 76 BLTTHS tuyên hủy 1 gói niêm phong hê rô in có trọng lượng 3,74 gam. Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu NOKIA theo phiếu nhập kho vật chứng số /PNK -VC ngày của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuần giáo. 4. Án phí: Áp dụng điều 99 BTTHS, Nghị quyết số 326/2016/QH, bị cáo Lường Văn H được miễn án phí HSST. Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.( 16/11/2017).

Cỡ chữ