vanban.org

Bản án 08/2017/DSST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

C¨n cø vµo các Điều 604; 605; 609 Bộ luậ t dân sự năm 2005 và Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 4 Điề u 27 Pháp lệnh án phí lệ phí Tòa án số: 10/2009/UBTVQH14 ngày 27 tháng 12 năm 2009 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Tranh chấp"
  • Tòa quyết gì? C¨n cø vµo các Điều 604; 605; 609 Bộ luậ t dân sự năm 2005 và Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 Án phí, lệ phí tòa án; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TAND HUYỆN H
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2017/DSST
Ngày 21/7/2017
V/v Đò i bồ i thườ ng thiệ t hạ i
do sứ c khỏ e bị xâm phạ m.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lành Văn Huế.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Văn Xuân

2. Ông Lê Xuân Nghiêm

Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Ngọc Dinh là Thư ký Toµ ¸n nh©n d©n huyÖn H÷u Lòng, tØnh L¹ng S¬n.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Chu Hương Thủ y - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 7 năm 2017, tại phòng xét xử Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 28/2016/TLST-DS, ngày 01/12/2016 về tranh chấ p “Đòi bồ i thườ ng thiệ t hạ i do sứ c khỏ e bị xâm phạ m ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2017/QĐXX-ST, ngày 31 tháng 5 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị S, sinh năm 1971.

Địa chỉ: Đường C, khu T, thị trấn H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn:

Ông Đ và ông C là Luậ t sư , thuộ c Công ty luậ t A , Đoà n luậ t sư tỉ nh Bắ c Giang; , đườ ng L, phườ ng T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Trần T, sinh năm 1990. Có mặt.

Bà Đ, sinh năm 1966. Có mặt.

Cùng địa chỉ: Đường C, khu T, thị trấn H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị H, sinh năm 1993

Địa chỉ: Đường C, khu T, thị trấn H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Vắ ng mặ t không có lý do.

2. Anh Đ, sinh năm 1995

Địa chỉ: Đường C, khu T, thị trấn H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

NỘ I DUNG VỤ Á N:

Theo đơn khởi kiện cùng những lời khai tiếp theo và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn bà Phạm Thị S trình bày:

Gia đì nh tôi và gia đì nh bà Đ ở liền kề nhau, anh Trầ n T là con trai bà Đ và chị L là vợ anh T. Chị L nhiề u lầ n qué t lá cây và đấ t hấ t sang củ a nhà tôi, tôi đã nhiề u lầ n gặ p và nó i bà Đ nhắ c nhở con dâu không đượ c là m vậ y nhưng chị Lvẫ n quét rá c hấ t sang cử a nhà bà .

Vào khoảng 08 giờ 00 ngày 17/5/2014, tôi đi ăn sá ng về thấ y nhiề u đấ t cá t , lá cây từ phía nhà bà Đ hấ t sang cử a nhà tôi. Tôi lấ y chổ i ra qué t, thấ y L đang đứ ng trướ c cử a nhà bà nó i là “lầ n sau mà y qué t thì hó t đi , đừ ng hấ t sang cử a nhà ngườ i khác, mày không có mắt à” . L nói “tao cứ hất sang đấy , con đĩ mà y là m gì đượ c tao”. Do bứ c xú c, tôi quét hất một cái trở lại , L gọi Trầ n T chạy từ trong nhà ra và nói với L “em cứ cầ m chổ i hấ t sang nhà con đĩ xem nó là m gì ” . L cầ m chổ i hấ t quét hất đất, bụi sang nhà tôi, hai bên to tiế ng cã i nhau . Lúc này chị H (chị gái bà S) đi qua và nó i “và o nhà đi , dây làm gì cái loại người hủi ấy” , tôi cầ m chổ i đi vào. Khi đang đó ng cổ ng , L chạy sang chân đạp vào cánh cổng và chửi , bà mở cánh cổng ra thấy T tay cầ m cá n chổ i gỗ , khi bà thanh gỗ bằ ng giá t giườ ng đuổ i L qua trước mặt T và đánh vào trúng mông L thì T cầ m cá n chổ i đậ p và o đầ u , vào ngườ i tôi 01 cái rồi bỏ chạy vào nhà , T lại lao đến vụt vào đầu , ngườ i bà , khi bà quay lạ i T lại lẻn chạy và bà vứt mảnh c ây đi rồ i và o nhà , T lại lao tới đập vào đầu tôi, túm tóc tôi ngồ i xuố ng rồ i đạ p tớ i tấ p và o đầ u và ngườ i tôi. Sau đó bà Đ mẹ của T từ đâu đi về sau đó cả hai mẹ con bà Đ, T lao và o nhà dù ng chân, tay, gậ y gộ c đá nh và o đầ u, vào mặt tôi gây nhiề u vế t thương. Bà được mọi người can ngăn và được người thân đưa đi cấp cứu và điều trị tại Trung tâm y tế huyện H đến ngày 24/5/2014 đượ c ra việ n.

Ngày 30/6/2014 bà được Công an huyện H, tỉnh Lạng Sơn đưa đi giám định thương tí ch; ngày 15/7/2014, Công an huyệ n H thông bá o cho biế t tỷ lệ tổ n hạ i sứ c khỏe của tôi là 05%. Bà không đồng ý với kết quả giám định nên bà đề nghị giám đị nh lạ i. Ngày 27/3/2015 bà nhận được thông báo kết luận giám định lại là 07% thương tí ch. Bà yêu cầu các khoản bồi thường như sau:

Yêu cầ u anh Trầ n T phải bồi thường thương tích 07% mà anh T gây ra vớ i các khoản sau:

- Tiề n phí điề u trị tạ i Trung tâm y tế huyệ n H:

1.536.775đ

- Tiề n phí tạ i Bệ nh việ n đa khoa tỉ nh Lạ ng Sơn:

518.000đ

- Tiề n giá m đị nh thương tí ch lạ i tạ i Hà Nộ i:

1.615.000đ

- Tiề n chụ p căt lớ p vi tí nh sọ nã o tạ i Bắ c Ninh:

800.000đ

- Tiề n xe:

- H – Lạng Sơn:

1.000.000đ

- H – Bắ c Ninh:

800.000đ

- H – Hà Nội:

1.800.000đ

- Tiề n mấ t thu nhậ p:

- Điề u trị trạ i bệ nh việ n là 07 ngày x 200.000đ/ngày:

1.400.000đ

- Sau điề u trị là 20 ngày x 200.000đ/ngày :

4.000.000đ

`- Ngườ i phụ c vụ 07 ngày x 150.000đ/ngày:

1.050.000đ

- Tiề n tổ n thấ t về tinh thầ n:

12.500.000đ

- Tiề n bồ i dưỡ ng sứ c khỏ e 27 ngày x 100.000đ/ngày:

2.700.000đ

Tổ ng:

29.719.775đ

- Yêu cầ u bà Đ bồ i thườ ng tổ n thấ t về tinh thầ n số tiề n là 2.500.000đ.

Bị đơn anh Trầ n T trình bày:

Vào khoảng 08 giờ 00 ngày 17 tháng 5 năm 2014 tôi đang ngủ trong nhà thig nghe tiế ng vợ tôi là L bị bà Phạm Thị S nhà sát tường nhà tôi chửi bới , xúc phạm vợ tôi và vợ tôi chửi lại . Sau đó tôi đi từ trong nhà ra ngoà i sân thì thấ y bà S tay cầ m gậ y tấ n công vợ tôi , bà S đậ p trú ng đù i vợ tôi , vợ tôi chạ y lên nhà , bà S tiế p tụ c đuổ i theo và đậ p trú ng cá nh tay phả i vợ tôi , khi đó vợ tôi đang bế con nhỏ không có khả năng tự vệ đượ c . Thấ y bà S tấ n công vợ tôi qua dữ dộ i tôi ra can ngăn thì bị bà S dùng gậy đập vào đầu tôi nhưng tôi dơ tay lên đỡ được, rồ i tiế p tụ c bị bà S đậ p và o cá nh tay trá i . Sau đó tôi nhặ t cây chổ i qué t nhà c ủa nhà tôi lên tự vệ và vụ t lạ i bà S mấ y nhá t nhưng không nhớ rõ là trú ng và o đâu , sau đó có ngườ i can ngăn tôi đi và o trong nhà và gọ i điệ n thoạ i cho mẹ tôi (bà Đ) về . Sau khi mẹ tôi về tôi đi ra Trạ m y tế th ị trấn H kiể m tra vế t thương bị bà S đá nh, còn mọi chuyện xảy ra tiếp theo như thế nào tôi không biết.

Sự việ c sả y ra tôi không biế t bà S bị thương tích như thế nào, điề u trị ở đâu, tôi không biế t thương tí ch đó c ó phải do tôi gây ra hay không , hay do ngườ i khá c gây ra, hoặ c bà S đã bị từ trướ c lú c sả y ra sự việ c đó . Nay bà S khở i kiệ n yêu cầ u tôi bồ i thườ ng thiệ t hạ i do sứ c khỏ e bị xâm phạ m tôi không đồ ng ý . Vì tôi không biế t bà S bị thương tích như thế nào , đi điề u trị ở đâu , tôi cũ ng không biế t bà S bị thương trướ c hay sau khi sả y ra sự việ c và vế t thương đó có phả i tôi gây ra hay không, hay do ngườ i khá c gây ra . Tôi cũ ng không thấ y vợ tôi đá nh bà S, vì lúc đó vợ tôi đang bế con nhỏ trên tay . Khi mẹ tôi về có đượ c đá nh bà S hay không tôi không biế t, vì lúc đó tôi đã đi xe máy ra Trạm y tế thị trấn H, huyệ n H xem vế t thương do bị bà S đá nh.

Sau sự việ c xả y ra đượ c khoả ng 01 tháng thì vợ tôi (chị L) đã bỏ nhà , bỏ con đi khỏ i nơi cư trú , cắ t đứ t liên lạ c đế n nay không biế t số ng ở đâu , cũng từ đó vợ chồ ng số ng ly thân đế n nay.

Bị đơn bà Đ trình bày:

Vào khoảng 08 giờ 00 ngày 17 tháng 5 năm 2014 tôi đang bá n hà ng nướ c ở ngã tư cũ gần Trạm y tế thị trấn H, huyệ n H thì nhận được điện thoại con trai tôi (Trầ n T) nói mẹ ơi con chó (cô Tá m tứ c bà Phạm Thị S) cạnh nhà mình đánh L đây này, nghe xong thì tôi đi xe má y cù ng chá u nộ i hơn hai tuổ i về xem sự việ c ra sao , về đế n ngõ rẽ xuố ng nhà thì thấ y T đang bị cô S cầ m gậ y đuổ i lên ngõ thấ y tôi về thì cô S quay lạ i cổ ng. T nói với tôi là mẹ ơi nó đánh con vào đây rồi chỉ vào dưới tai (cạnh cổ), tôi nhì n thấ y mộ t vế t dỏ tí m , tôi không nó i gì và đi xe thẳ ng về . Lúc đó con dâu tôi tên là L bế con đứ ng ở sân, tôi hỏ i là m sao mà lạ i đá nh nhau thì con tôi nó i, mẹ ơi nó (cô S) hấ t lá cây sang cử a nhà mì nh thì con qué t hấ t trả thế là nó chử i con là con tứ c quá lấ y chân đá và o cổ ng sắ t nhà nó thế là cô ấ y đá nh con và o bắ p tay và và o đù i, trong lú c đó con đang bế thằ ng cu trên tay , bị cô ấy đánh ở sân con chạ y và o trong nhà cô ấ y lạ i đuổ i con và o nhà đá nh con gẫ y hai đoạ n cây ở trong nhà kia kì a, nghe thấ y vợ kêu khó c T đang ngủ trong buồng dậy tự vệ hộ vợ con. Tôi dự ng xe và o nhà thấ y cô S đá nh T mộ t phá t và o cổ tay bị chả y má u, T kêu lên “mẹ ơi nó đá nh con gã y tay rồ i” , trướ c mặ t con dâu , con trai tôi bị cô S đá nh, tôi có tú m lạ i cô S và hai bên vậ t lộ n nhau ở ngoà i đườ ng trong lú c vậ t lộ n nhau tôi có ngồi lên trên bụng cô S, đú ng lú c đó có chị M, chị N , anh Đứ c đi trên ngõ xuố ng thấ y hai ngườ i vậ t lộ n nhau chị M, chị N vào can ngăn, cầ m tay tôi nó i dậ y, thế là cô S lại cào cấu vào mặt tôi và xé rách hết cổ áo tôi xuống tận nách . Tôi nó i vớ i mọ i ngườ i là cá c chị bỏ tay em ra , em không đá nh nó đâu em chỉ hỏ i tộ i nó thôi. Tại sao mày lại đánh con tao , con tao nó láo mày phải bảo tao để tao dạy nó chứ , mày ngang hàng với tao cơ mà , nói xong thì tôi đứng dậy đi về nhà . Về nhà tôi có nó i vớ i chị M, chị Lâp và anh Đức là các anh chị làm chứng cho em, nó đánh con em gẫ y hai đoạn cây trong nhà tôi có chỉ cho mọi người cùng nhìn thấy.

Toàn bộ sự việc sảy ra là do cô S gây ra cho mẹ con tôi , cô S đá nh đậ p, đe dọa con dâu tôi nên đã bỏ nhà đi từ tháng 11 năm 2014 đến nay chưa về để lại hai đứ a con nhỏ tôi phải nuôi . Nay bà Phạm Thị S bắ t mẹ con tôi phả i bồ i thườ ng tôi không đồ ng ý .

Tôi yêu cầ u Tò a á n xem xé t giả i quyế t theo quy đị nh củ a phá p luậ t và trả sự công bằ ng cho mẹ con tôi.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Anh Đ trình bày:

Tôi là con trai củ a bà Phạm Thị S . Sáng ngày 17 tháng 5 năm 2014 tôi đi làm thuê tại nhà hàng Diệu Vân , đến khoảng 08 giờ hơn mẹ gọ i điệ n cho tôi nó i là bị người ta đánh , sau đó tôi về ngay, khi về đế n nhà thấ y mọ i ngườ i là ng xó m tậ p trung ở sân trướ c cử a nhà tôi thì tôi thấ y ngó n tay mẹ bị chả y má u , máu dính đầy ở áo và ngón tay bị đau không nắm được bàn tay , lúc đó tôi chưa biết ai đánh mẹ tôi, tôi thấ y bà Đ, chị L ở nhà bên cạnh chửi bới mẹ tôi . Tôi có hỏ i mẹ , mẹ nói bị anh Trầ n T đá nh, bà Đ vậ t lộ n mẹ tôi ngã xuố ng. Còn sự việc xảy ra từ ban đầu như thế nào tôi không rõ . Đế n khoảng 10 giờ hơn tôi đưa mẹ đi cấ p cứ u và điề u trị trạ i Trung tâm y tế huyệ n H, tỉnh Lạng Sơn đến ngày 23/5/2014 thì được ra viện . Mẹ tôi bị anh T đá nh gây thương tí ch tổ n hạ i 07% sứ c khỏ e. Trong thờ i gian mẹ tôi điề u trị tạ i Bệ nh việ n tôi là ngườ i trự c tiế p phụ c vụ thờ i gian là 07 ngày.

Tôi yêu cầ u anh Trầ n T phải bồi thường ngày công lao động người phục vụ theo mẹ tôi yêu cầ u.

Đối với chị L Toà án đã triệu tậ p nhiề u lầ n để đế n Tò a á n giả i quyế t vụ á n , tuy nhiên chị Lkhông có mặ t tạ i đị a phương . Qua kế t quả xá c minh tạ i UBND thị trấ n H thì thấy: Chị Lvẫ n có hộ khẩ u thườ ng trú tạ i khu Tân Lậ p , thị trấn H, huyệ n H, chị Lđi đâu là m gì không khai bá o . Do vậ y, không tiế n hà nh lấ y lờ i khai chị Lđượ c.

Ngườ i là m chứ ng trì nh bà y:

Ông Vũ L trình bày: Về quan hệ vớ i bà S là anh rể, bà Đ là làng xóm. Vào khoảng 08 giờ 30 phút ngày 17/5/2014 tôi cù ng vợ dắ t xe ra cổ ng thì thầ y chá u L và cô S quét rác hất sang sân nhà nhau và cãi chửi nhau . Vợ tôi có nó i ở gầ n nhau mỗ i ngườ i nhườ ng nhau mộ t tý hay ho gì ; vợ chồ ng tôi đi chằ ng má y quả bầ u , khoảng 05 phút sau quay về qua cửa nhà cô S thấ y T đứ ng cá ch cổ ng cô S khoảng 02 mét, tay cầ m chiế c chổ i cá n gỗ , còn L đang đậ p phá cổ ng nhà cô S. Tôi nhì n thấ y, tôi lên tiế ng nó i nà y chá u ơi mà y đậ p phá cổ ng nhà ngườ i ta thế là sai , làm như thế là không đượ c. Lúc đó bà S không có ở đó , mộ t lú c sau bà S ở trong nhà ra nói gì đó tôi không nghe được, còn L chử i tụ c là con đĩ tao cứ đạ p phá mà y là m gì đượ c tao. Cô S lúc đó mở cổng, tay cầ m thanh gỗ xẻ đuổ i theo L, L chạy vòng qua sau lưng T thì cô S đuổ i qua trướ c mặ t T và vụt một nhát dính vào sau lưng của L, lúc đó T ở đằng sau cô S hai tay cầ m chổ i cá n gỗ đậ p và o đầ u , vai bà S nhiề u cá i làm cán chổi gẫy thành hai đoạn. Bà S tiế p tụ c đuổ i theo L, L chạy vào nhà, bà S ở ngoài vụt một cái nữa nhưng không trúng người L thì đầu thanh gỗ đập xuố ng đấ t gẫ y thà nh ba đoạ n. Khi bà S quay lạ i đị nh về thì T đi từ phí a sau bà S hai tay cầ m chổ i lú a đã gẫ y đâm thẳ ng và o ngườ i bà S, bà S né tránh thì bị đâm vào sát nách trái. Sau đó bà S tay cầ m thanh gỗ quay lạ i thì T chạy vào cổng nhà, bà S vụt một cái thì T dơ tay lên đỡ đượ c, bà S vứ t đoạ n cây quay đi về nhà . Khi vừ a bướ c chân vào khỏi cổng sắt thì bị T đi từ phí a ngoà i lao thẳ ng và o trong cổ ng sắ t tay cầ m cá n chổ i bị gẫ y, mộ t tay ví t ngườ i bà S xuố ng, còn tay cầm chổi đập vào đầu , vai bà S nhiề u nhá t. Tôi đứ ng ngoà i thấ y bà S bị đánh đau quá nên tôi mới nói “này thàng kia mà y cò n đá nh nó nữ a tao và o tao đá nh mà y chế t” lú c đó T mớ i thôi.

Còn cô Đ (mẹ của T) lúc đó đi từ đâu về dựng xe rồi xông vào trong cổng nhà bà S mộ t tay tú m tó c , mộ t tay tá t qua tá t lạ i và o mặ t bà S nhiề u cá i, sau đó dùng hai tay túm t óc bà S lôi ra khỏ i cổ ng , T ở đó vụt tiếp bà S mộ t cá i và o đù i . Sau đó bà Đ quậ t bà S ngã ngửa xuống đất và ngồi lên trên bụng , mộ t tay tú m tó c giữ chặ t, tay kia tá t và o mặ t bà S, bà S vung tay ra đượ c và túm vào cổ áo bà Đ lôi xuố ng là m cổ á o bà Đ rách. Tôi thấ y vậ y, tôi và o lôi tay bà Đ ra nhưng bà Đ không đứ ng dậ y, còn T đang đứ ng ở cạ nh đó dù ng chân đá và o vai bà S. Sau đó có chị N, chị M người cùng xóm cùng can ngăn thì bà Đ mớ i thôi và ai về nhà ngườ i đó . Sau đó như như thế nà o tôi không rõ .

Tại lời khai ông Lê A và bà Lê N cho biế t: Sáng ngày 17/5/2014 vào khoảng 09 giờ 00 phút ông, bà có đượ c can ngăn bà Đ và bà S đang vậ n lộ n , đá nh nhau. Còn nguyên nhân xảy ra đánh nhau từ đầu như thế nào ông, bà không biết.

T¹i phiªn tßa ®¹i diÖn ViÖn kiÓm s¸t nhân dân huyện H ph¸t biÓu vÒ viÖc tu©n theo ph¸p luËt của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa:

Thẩm phán đượ c phân công giả i quyế t vụ á n ®· tiÕn hµnh ®Çy ®ñ c¸c ho¹t ®éng tè tông vµ ®óng theo quy ®Þnh; t¹i phiªn tßa Héi ®ång xÐt xö và Thư ký đã thực hiện đúng, ®Çy ®ñ c¸c thñ tôc tè tông về phiên tòa sơ thẩm theo quy ®Þnh cña Bé luËt tè tông d©n sù. Tuy nhiên, vẫ n cò n có nhữ ng vi phạ m sau:

- Thẩ m phá n xá c đị nh đưa chị L vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyề n lơi, nghĩa vụ liên quan là không đúng với quy định tạ i khoả n 4 Điề u 68 Bộ luậ t tố tụ ng dân sự .

- Tại biên bản kiểm tra việc giao nộp , tiế p cậ n công khai chứ ng cứ và hò a giải, Thẩ m phá n không hỏ i cá c đương sự về việ c đã gử i tà i liệ u , chứ ng cứ cho cá c đương sự khá c chưa , các đương sự khá c nhậ n đượ c hay chưa là vi phạ m điể m b khoản 2 Điề u 210; điể m b khoả n 2 Điề u 211 Bộ luậ t tố tụ ng dân sự .

- Tại biên bản không tiến hành mở phiên họp việc giao nộp , tiế p cậ n, công khai chứ ng cứ và hò a giả i ngà y 16/3/2017 thể hiệ n Tò a á n đã thông bá o hợ p lệ cho các đương sự vắng mặt . Tuy nhiên , hồ sơ không có tà i liệ u nà o thể hiệ n ngườ i đượ c cấ p, tố ng đạ t ký nhận các văn bản tố tụng đó theo quy định tại Điều 175, 177 Bộ luậ t tố tụ ng dân sự .

Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Về cá c yêu cầ u củ a bà S yêu cầ u anh T phải bồi thường cho bà các khoản chi phí nằm viện, tiề n thuố c, tiề n mấ t thu nhậ p khi nằ m việ n và sau ra việ n, tiề n chi phí giám định, tiề n công ngườ i chăm só c , tiề n tổ n thấ t về tinh thầ n và cá c khoả n chi phí thực tế là phù hợp với quy định tại Điều 609 Bộ luậ t dân sự năm 2005. Tuy nhiên, cũng cần xem xét các khoản yêu cầu của bà S, khoản nào có căn cứ chấp nhậ n toà n bộ , hoặ c chấ p nhậ n mộ t phầ n hay không có căn cứ chấ p nhậ n:

Đối với khoản chi phí thuê xe đi giám định lại tại Hà Nội , theo hợ p đồ ng thuê xe ô tô INOVA 08 chỗ vớ i giá tiề n là 1.800.000đ, mứ c giá nà y quá cao so vớ i giá thị T, số lượ ng ngườ i đi cù ng không đế n mứ c phả i thuê xe ô tô loạ i 08 chỗ , nên chỉ chấp nhận số tiền từ 1.200.000đ đế n 1.500.000đ là phù hợ p; Đối với khoản chi phí 816.000đ đây là khoả n chi bồ i dưỡ ng cho việ c giá m đị nh lạ i , không phả i chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, điề u trị cho ngườ i bị thiệ t hạ i, do đó không có căn cứ chấ p nhậ n.

Tiề n mấ t thu nhậ p sau khi ra việ n theo yêu cầ u củ a bà S là 20 ngày, tuy nhiên, vớ i yêu cầ u 20 ngày là quá cao so với thương tích 07% sứ c khỏ e củ a bà S, nên chỉ chấ p nhậ n từ 10 đến 15 ngày x 200.000đ/ ngày là phù hợp với thực tế v à phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với các khoản chi phí mà bà S đi chụ p CT nã o tạ i phò ng khá m đa khoa HM - Bắ c Ninh và tiề n xe mà không có chỉ đị nh củ a bá c sỹ củ a Trung tâm y tế huyệ n H đang điề u trị cho bà. Do đó khoả n chi nà y không có căn cứ chấ p nhậ n.

Về khoả n tiề n tổ n thấ t về tinh thầ n : Bà S yêu cầ u bồ i thườ ng 12.500.000đ là quá cao so với thương tích của bà bị thiệt hại là 07%, nên chỉ chấ p nhậ n số tiề n t ừ 3.000.000đ đế n 5.000.000đ là phù hợ p.

Đối với yêu cầu của bà S yêu cầ u bà Đ bồ i thườ ng số tiề n tổ n thấ t về tinh thầ n 2.500.000đ là không có căn cứ . Vì, theo bà thương tí ch 07% về sắ c khỏ e củ a bà là do anh T gây ra, nên anh T phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bà . Theo bà thì bà Đ có được tham gia đánh nhưng không gây thương tích , bà Đ cũng không thừ a nhậ n đượ c đá nh bà , mặ t khá c bà S không yêu cầ u bà Đ phải bồi thường thiệ t hạ i về sứ c khỏ e nên không có căn cứ xem xé t chấ p nhậ n khoả n tiề n nêu trên là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điề u 609 Bộ luậ t dân sự năm 2005.

Tại phiên tòa bà S yêu cầ u anh T phải bồi thường cho và thêm khoả n tiề n bồ i dưỡ ng phụ c hồ i sứ c khỏ e khi nằ m việ n và sau khi ra việ n vớ i tổ ng số tiề n 2.700.000đ, trong đó tiề n bồ i dưỡ ng trong thờ i gian nằ m việ n 700.000đ, sau khi ra việ n 20 ngày 2.000.000đ. Xét thấy khoản t iề n bồ i thườ ng nà y là hợ p lý , phù hợp vớ i quy đị nh tạ i Điề u 609 Bộ luậ t dân sự nên có căn cứ chấ p nhậ n . Tuy nhiên, tiề n bồ i dưỡ ng sứ c khỏ e sau khi ra việ n bà S yêu cầ u 2.000.000đ là quá cao , nên chấ p nhậ n 1.500.000đ là phù hợp.

Trong vụ á n nà y, nguyên nhân dẫ n đế n bà S bị anh T đá nh gây tổ n hạ i về sứ c khỏe là do bà S và chị L(vợ anh T) có mâu thuẫn với nhau về việc quét hất rác sang nhà nhau dẫ n đế n cã i, chử i, xúc phạm nhau. Bà S là người cầm gậy đuổi đánh chị Ltrướ c, đây cũ ng là phầ n lỗ i củ a bà S. Do đó , cầ n xá c đị nh bà S cũng có một phầ n lỗ i trong việ c anh T gây thiệ t hạ i về sứ c khỏ e cho bà S nên bà S phải tự chịu trách nhiệm đối với phần lỗi của mình nằng 1/3 tổ ng số tiề n đượ c bồ i thườ ng . Vì vậ y, số tiề n anh T phải bồi thường cho bà S đượ c trừ đi tổ ng số tiề n tương ứ ng vớ i 1/3 lỗ i củ a bà S.

Ngườ i bả o vệ quyề n và lợ i í ch hợ p phá p củ a nguyên đơn đề nghị Hộ i đồ ng xét xử chấp nhận và buộc anh T phải bồi thường các khoản chi phí việ n phí , tiề n thuố c, tiề n mấ t thu nhậ p khi nằ m việ n và sau ra việ n , tiề n chi phí giá m đị nh , tiề n mấ t thu nhậ p, tiề n mấ t thu nhậ p củ a ngườ i chăm só c, tiề n tổ n thấ t về tinh thầ n, tiề n bồ i dưỡ ng về sứ c khỏ e theo hó a đơn và chi phí thự c tế vớ i tổ ng số tiề n là 32.219.775đ cho bà Phạm Thị S theo quy đị nh củ a phá p luậ t.

Vụ án đã được Toµ ¸n ®· tiÕn hµnh hoµ gi¶i nh ng kh«ng thµnh. C¸c ® ¬ng sù gi÷ nguyªn c¸c ý kiÕn ®· ® a ra ë trªn.

NHẬ N ĐỊ NH CỦ A TÒ A Á N:

Sau khi nghiªn cøu c¸c tµi liÖu cã trong hå s¬ vô ¸n ® îc thÈm tra t¹i phiªn toµ vµ c¨n cø vµo kÕt qu¶ tranh luËn t¹i phiªn toµ Héi ®ång xÐt xö nhËn ®Þnh:

1. Về thủ tụ c tố tụ ng: Phiên tòa ngày 21/7/2017 là phiên tòa mở lần thứ hai. người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị L vắng mặt, không có lý do. Người vắng mặt đã được Tòa án tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ, do vậy căn cứ điểm d khoản 2 Điều 227, 228, 229 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt theo quy định chung.

2. Về quan hệ tranh chấp: Đây là vụ á n tranh chấ p đò i bồ i thườ ng thiệ t hại do sứ c khỏ e bị xâm phạ m.

3. Đối với yêu cầu của bà Phạm Thị S “đò i bồ i thườ ng bồ i thườ ng thiệ t hạ i do sứ c khỏ e vị xâm phạ m là có căn cứ, vì: Ngày 17 tháng 5 năm 2014 do hai gia đì nh giữ a bà Phạm Thị S và chị L xảy ra mâu thuẫn cãi nhau , nguyên nhân do hai bên qué t rá c sang sân nhà củ a nhau . Từ mâu thuẫ n nà y hai bên cã i , chử i nhau to tiế ng, chị Ldùng chân đạp vào cổng nhà bà S và chửi bà S, bà S bứ c xú c tay cầ m mảnh gỗ dầy 01cm, rộ ng 10cm, dài 1,2m mở cổ ng ra đuổ i đá nh chị L. Anh Trầ n T thấ y chị Lbị bà S đuổ i đá nh đã dù ng cá n chổ i bằ ng gỗ đá nh bà S vào đầu, vai và ngườ i gây thương tí ch cho bà S. Bà S thấ y L còn đứng ở gần, trên tay bà đang cầ m sẵ n mả nh gỗ chạ y tớ i vụ t L mộ t cá i và o mông rồ i L chạy vào nhà, T quay lạ i đế n tiế p tụ c vụ t và o đầ u , vào người bà S, khi bà S chạy thì bị T lại lao tới tú m tó c đè ngườ i ngồ i xuồ ng rồ i dù ng chân đạ p và o đầ u và ngườ i , bà S đượ c mọ i ngườ i can ngăn chạ y về nhà . Không dừ ng lạ i ở đó sau đó bà Đ mẹ đẻ anh T khi biế t tin đi từ đâu về cù ng T lao sang sân nhà bà S lôi ké o bà S ra ngoà i và vậ t bà S ngã xuống rồ i ngồ i lên bụ ng bà S, còn anh T tiế p tụ c dù ng chân , tay, cán chổi đánh bà S gây nhiề u vế t thương, sau đó có bà Lậ p, bà Tuyết, ông Lộ c và o can ngăn lôi bà Đ ra thì hai bên mớ i chấ m dứ t . Ngay sau đó bà S đượ c ngườ i nhà đưa đế n Trung tâm y tế huyệ n H, tỉnh Lạng Sơn cấp cứu , điề u trị đế n ngà y 24/5/2014 ra viên. Theo bênh án ngoại khoa của Trung tâm y tế huyện H, bà S bị các vết thương: Đốt II, ngón II, bàn tay phải có vết thương dập nát nằm ngang dài 2,5cm, sờ nắ n có dấ u hiệ u lạ o dạo xương; vế t thương vù ng dướ i xương bả vai trá i trên ná ch sâu gầ n 0,5cm; đa chạm thương phần mềm vùng đầ u và vù ng bả vai phả i , đù i phả i . Theo kế t quả giám định pháp y về thương tích lần 01 bà S bị tổn hại 05% sứ c khỏ e, lầ n 02 07% sứ c khỏ e. Bà Phạm Thị S bị thương tích phải đi điều trị là có thật, theo cá c tà i liệ u, chứ ng cứ có trong hồ sơ thì cá c vế t thương củ a bà S là do anh T gây ra. Mặ c dù anh T cho rằ ng cá c vế t thương củ a bà S không biế t có phả i anh đá nh không hay đã bị từ trước khi xảy ra xô xát với anh . Tuy nhiên trong quá trì nh giả i quyế t vụ á n và tại phiên tòa anh Trương không đưa ra được chứng cứ nào để chứng minh các vết thương củ a bà S đã có từ trướ c hay không phả i anh gây ra , mặ t khá c anh T cũng khẳ ng đị nh đượ c dù ng c án chổi bằng gỗ đánh bà S nhiề u phá t nhưng không nhớ đá nh trú ng và o đâu . Việ c anh T dùng cán chổi đánh bà S cũng được ông Vũ L là làng xóm chứng kiến từ đầu , lờ i khai củ a ông Lộ c phù hợ p vớ i lờ i khai củ a bà S. Các vết thương của bà S đều do ngoại lực tác động gây ra , các vết thương đều phù hợ p vớ i lờ i khai củ a bà S , ông Lộ c và bệ nh á n ngoạ i khoa củ a Trung tâm y tế huyệ n H, tỉnh Lạng Sơn.

4. Bà Phạm Thị S yêu cầ u anh T phải bồi thường cho bà các khoản chi phí nằ m việ n, tiề n thuố c, tiề n mấ t thu nhậ p khi nằ m việ n và sau ra việ n , tiề n chi phí giám định, tiề n công ngườ i chăm só c , tiề n tổ n thấ t về tinh thầ n và cá c kho ản chi phí thực tế là phù hợp với quy định tại Điều 609 Bộ luậ t dân sự năm 2005. Do vậ y cầ n buộ c anh Trầ n T phải bồi thường thiệt hại cho bà Phạm Thị S gồ m cá c khoả n sau: Tiề n chi phí điều trị tại Trung tâm y tế huyệ n H theo hó a 1.536.775đ; tiề n chi phí giám định tại Lạng Sơn theo hó a đơn 518.000đ và tiền thuê xe ô tô theo hóa đơn vậ n chuyể n hà nh khá ch 1.000.000đ; tiề n giá m đị nh thương tí ch lạ i tạ i Hà Nộ i theo hó a đơn 799.000đ; tiề n mấ t thu nhậ p trong thờ i gian đ iề u trị tạ i bệ nh việ n là 07 ngày x 200.000đ/ngày = 1.400.000đ và sau khi ra việ n là 20 ngày x 200.000đ/ngày = 4.000.000đ; tiề n mấ t thu nhậ p ngườ i phụ c vụ trong thờ i gian điề u trị tại là 07 ngày x 150.000đ/ngày = 1.050.000đ;

5. Về khoả n tiề n tổ n thấ t về tinh thầ n: Bà S yêu cầ u bồ i thườ ng 12.500.000đ là quá cao so với thương tích của bà bị thiệt hại là 07%, theo quy đị nh tạ i Điề u 609 Bộ luậ t dân sự năm 2005 thì mức bồi thường tổn thất về tinh thần không được vượt quá 30 tháng lương tối thiểu . Do vậ y, căn cứ tỷ lệ thương tí ch nên chỉ chấ p nhậ n mộ t phầ n yêu cầ u củ a bà tương đương vớ i 04 tháng lương tối thiểu là 5.200.000đ là phù hợ p;

6. Đối với khoản chi phí thuê xe đi giám định lại tại Hà Nội , theo hợ p đồ ng thuê xe ô tô INOVA 08 chỗ ngồ i vớ i giá tiề n là 1.800.000đ, mứ c giá nà y quá cao so vớ i giá thị T và so với mức giá thuê xe 05 chỗ ngồ i, số lượ ng ngườ i đi cù ng giám định lại không đến mức phải thuê xe ô tô loại 08 chỗ ngồ i, do vậ y, nên chỉ chấ p nhậ n số tiề n thuê xe vớ i giá 1.500.000đ là phù hợ p;

7. Đối với khoản chi phí theo phiế u thu ngà y 31/3/2015 của Viện giá m đị nh Quố c gia số tiề n 816.000đ đây là khoả n chi bồ i dưỡ ng cho việ c giá m đị nh lạ i

, không phả i chi phí hợ p lý cho việ c cứ u chữ a , điề u trị cho ngườ i bị thiệ t hạ i , do đó không có căn cứ chấ p nhậ n;

8. Đối với các khoản chi phí mà bà S đi chụ p CT nã o tạ i phò ng khá m đa khoa HM - Bắ c Ninh và tiền thuê xe mà không có chỉ định của bác sỹ của Trung tâm y tế huyệ n H đang điề u trị cho bà . Do đó khoả n chi nà y không có căn cứ chấ p nhậ n;

9. Đối với yêu cầu của bà S yêu cầ u bà Đ bồ i thườ ng số tiên tổ n thấ t về tinh thầ n 2.500.000đ là không có căn cứ . Vì, theo bà thương tí ch 07% về sứ c khỏ e củ a bà là do anh T gây ra, bà thì bà Đ có đượ c tham gia đá nh nhưng không gây thương tích, bà Đ cũng không thừa nhận được đánh bà. Mặt khác bà S không yêu cầ u bà Đ phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe nên không có căn cứ xem xét chấp nhận khoản tiền nêu trên là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điề u 609 Bộ luậ t dân sự năm 2005;

10. Tại phiên tòa bà S yêu cầ u anh T phải bồi thường cho bà thêm khoản tiền bồ i dưỡ ng phụ c hồ i sứ c khỏ e trong thờ i gian nằ m việ n 07 ngày và sau khi ra việ n 20 ngày x 100.000đ/ ngày = 2.700.000đ. Xét thấy khoản tiền bồi thường này là hợp lý, phù hợp với quy định tại Điều 609 Bộ luậ t dân sự 2005, nên có căn cứ chấ p nhậ n.

11. Tổ ng cá c khoả n là 19.703.775đ.

12. Xét về lỗ i: Trong vụ á n nà y , nguyên nhân dẫ n đế n bà S bị anh T đá nh nhau gây tổ n hạ i về sứ c khỏ e là do bà S và chị L(vợ anh T) có mâu thuẫn với nhau về việ c qué t sân hấ t rá c sang nhà củ a nhau dẫ n đế n cã i , chử i, xúc phạm nhau. Bà S là người cầm mảnh ván đuổi đánh chị Ltrướ c, đây cũ ng là phầ n lỗ i củ a bà S. Do đó , cầ n xá c đị nh bà S cũng có một phần lỗi trong việc anh T gây thiệ t hạ i về sứ c khỏe cho bà S nên bà S phải tự chịu 1/5 trách nhiệm đối với phần lỗi của mình gây ra tương ứ ng vớ i số tiề n là 3.940.755đ. Vì vậy, số tiề n anh T phải bồi thường cho bà S đượ c trừ đi số tiề n 3.940.755đ lỗ i củ a bà S, anh Trầ n T còn phải bồi thường cho bà Phạm Thị S với tổ ng số tiền là 15.763.020đ.

13. Xét về đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là có căn cứ chấ p . Tuy nhiên, các khoản yêu cầu của bà S về tiề n tổ n thấ t về tinh thầ n, tiề n thuê xe ô tô 08 chỗ ngồ i đi giá m đị nh lạ i tạ i Hà Nộ i là quá cao , nên Hộ i đồ ng xé t xử chỉ chấ p nhậ n mộ t phầ n như đã phân tí ch trên ; đố i vớ i số tiề n tổ n thấ t về tì nh thầ n bà S yêu cầ u bà Đ bồ i thườ ng 2.500.000đ và khoả n tiề n chi phí mà bà S đi chụ p CT nã o tạ i phò ng khá m đa khoa HM - Bắ c Ninh mà không có chỉ đị nh củ a bá c sỹ là không có căn cứ chấp nhận như đã phân tích nêu trên.

14. VÒ ¸n phÝ: Bà Phạm Thị S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về các khoản tiề n theo yêu cầ u khở i kiệ n củ a bà không đượ c Tò a á n chấ p nhậ n là 16.456.755; anh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về khoản tiền mà anh phải bồi thường cho bà S là 15.763.020đ theo quy đị nh.

15. Quyề n khá ng cá o : Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

16. Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

C¨n cø vµo các Điều 604; 605; 609 Bộ luậ t dân sự năm 2005 và Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 4 Điề u 27 Pháp lệnh án phí lệ phí

Tòa án số: 10/2009/UBTVQH14 ngày 27 tháng 12 năm 2009 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử :

1. Chấp nhận mộ t phầ n yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị S.

Buộ c anh Trầ n T bồ i thườ ng thiệ t hạ i do sứ c khỏ e bị xâm phạ m cho bà Phạm Thị S tổ ng số tiề n là : 15.763.020đ (Mườ i năm triệ u bả y trăm sá u mươi ba nghìn không trăm hai mươi đồng).

2. Không chấ p nhậ n yêu cầu của bà Phạm Thị S đòi anh T bồi thường các các khoản chi phí chụ p cá t lớ p sọ nã o và tiền xe phòng khám đa khoa HM - Bắ c Ninh vớ i tổ ng số tiề n là 1.600.000đ; tiề n xe đi giá m đị nh lạ i tạ i Hà Nộ i 300.000đ; tiề n chi phí bồ i dưỡ ng giá m đị nh lạ i 816.000đ và 7.300.000đ tiề n tổ n thấ t về tinh thầ n; đò i bà Đ bồ i thườ ng tổ n thấ t về tinh thầ n số tiề n là 2.500.000đ là không có căn cứ.

Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiề n đượ c xá c đị nh theo thỏ a thuậ n cả u cá c bên nhưng không đượ c vượ t quá mứ c lãi suất được quy đị nh tại khoản 1 Điề u 468 của Bộ luậ t dân sự ; nế u không có thỏ a thuậ n thì thự c hiệ n theo quy đị nh tạ i khoả n 2 Điề u 468 Bộ luậ t dân sự .

3. Về án phí:

Buộc anh Trầ n T phải chịu 788.151đ (Bảy trăm tám mươi tám nghìn một trăm năm mươi mố t đồ ng ) tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch để sung công quỹ Nhà nước.

Buộc Phạm Thị S phải chịu 822.837đ (Tám trăm hai mươi hai nghìn tám trăm ba mươi bả y đồ ng) tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch để sung công quỹ Nhà nước.

4. Quyền kháng cáo:

Báo cho các đương sự có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;

Báo cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án đượ c niêm yết).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ